Dầu mỏ
Dầu mỏ, còn được gọi là dầu thô hoặc đơn giản là dầu, là một nguồn tài nguyên thiên nhiên tồn tại dưới dạng một hỗn hợp hóa học dạng lỏng màu đen ánh vàng được tìm thấy trong các thành hệ địa chất, thành phần chủ yếu bao gồm các hydrocarbon.[1] Thuật ngữ dầu mỏ dùng để chỉ cả dầu thô chưa qua chế biến xuất hiện tự nhiên trong lòng đất lẫn các sản phẩm dầu khí thu được sau quá trình tinh chế.
Dầu mỏ là một loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành qua hàng triệu năm từ quá trình phân hủy yếm khí các vật liệu hữu cơ của những sinh vật tiền sử bị chôn vùi, đặc biệt là sinh vật phù du và tảo. Người ta ước tính rằng 70% các mỏ dầu trên thế giới được hình thành trong Đại Trung sinh, 20% hình thành trong Đại Tân sinh, và chỉ 10% hình thành trong Đại Cổ sinh.[2] Các trữ lượng dầu mỏ thông thường chủ yếu được thu hồi thông qua phương pháp khoan khai thác, được tiến hành sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng về địa chất cấu trúc, phân tích bể trầm tích và đặc trưng hóa tầng chứa dầu khí. Bên cạnh đó còn có các tầng chứa phi truyền thống như cát hắc ín và đá phiến dầu, vốn được khai thác bằng các phương pháp như nứt vỉa thủy lực.
Sau khi được khai thác lên, dầu mỏ được tinh chế và phân tách, phổ biến nhất là bằng phương pháp chưng cất phân đoạn thành nhiều sản phẩm phục vụ sử dụng trực tiếp hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp. Các sản phẩm dầu mỏ bao gồm các loại nhiên liệu như xăng, dầu diesel, dầu hỏa và nhiên liệu máy bay; nhựa đường, sáp parafin và dầu nhờn; các thuốc thử hóa học dùng để sản xuất chất dẻo; dung môi, sợi dệt nhân tạo, chất làm lạnh, sơn, cao su nhân tạo, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dược phẩm cùng hàng ngàn hợp chất hóa dầu khác. Dầu mỏ được sử dụng để chế tạo vô số loại vật liệu thiết yếu cho đời sống hiện đại,[3] và ước tính toàn thế giới tiêu thụ khoảng 100 triệu thùng (16 triệu mét khối) mỗi ngày. Ngành khai thác dầu khí đã đóng vai trò then chốt trong tiến trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế,[4] đặc biệt là từ sau Cách mạng Công nghiệp lần thứ hai. Một số quốc gia giàu tài nguyên dầu mỏ, thường được gọi là các quốc gia dầu mỏ (petrostate), đã giành được ảnh hưởng kinh tế và quốc tế to lớn vào nửa sau thế kỷ 20 nhờ việc nắm giữ quyền kiểm soát hoạt động sản xuất và kinh doanh dầu thô.
Dầu mỏ là một nguồn tài nguyên không thể tái tạo, và việc khai thác quá mức loại tài nguyên này gây ra nhiều nguy hại đối với môi trường tự nhiên, hệ thống khí hậu cũng như sức khỏe con người. Các hoạt động khai thác, tinh chế và đốt cháy nhiên liệu dầu mỏ đã làm đảo ngược vai trò của các bể hấp thụ carbon thông qua việc xả một khối lượng khổng lồ các loại khí nhà kính vào bầu khí quyển Trái Đất, biến dầu mỏ thành một trong những tác nhân hàng đầu gây ra biến đổi khí hậu nhân tạo. Những tác động tiêu cực khác tới môi trường, xuất hiện ở hầu hết mọi công đoạn sử dụng, bao gồm sự cố rò rỉ trực tiếp, chẳng hạn như các vụ tràn dầu cùng tình trạng ô nhiễm thứ cấp đối với các nguồn nước và không khí.
Khoảng cách địa lý tiếp cận các mỏ dầu mỏ, kéo theo quyền tiếp cận và định giá dầu trong lịch sử đã châm ngòi cho các cuộc xung đột nội bộ lẫn căng thẳng địa chính trị, những cuộc chiến tranh giành dầu mỏ được nhà nước bảo trợ, các cuộc va chạm ngoại giao và chiến tranh thương mại, tranh chấp chính sách năng lượng cùng nhiều xung đột tài nguyên khác. Mặc dù sản lượng khai thác được dự báo sẽ chạm ngưỡng đỉnh sản lượng dầu trước năm 2035,[5] sự chuyển hướng trọng tâm của nền kinh tế toàn cầu sang giảm thiểu biến đổi khí hậu thông qua quá trình chuyển dịch năng lượng sang các nguồn năng lượng tái tạo và gia tăng điện khí hóa sẽ giúp giảm bớt đáng kể sự phụ thuộc vào dầu mỏ.[6]
Từ nguyên
[sửa | sửa mã nguồn]Từ petroleum (dầu mỏ) bắt nguồn từ tiếng La-tinh Trung cổ petroleum (nghĩa đen là "dầu đá"), vốn được ghép từ từ tiếng La-tinh petra mang nghĩa "đá" (từ tiếng Hy Lạp pétra πέτρα) và oleum mang nghĩa "dầu" (từ tiếng Hy Lạp élaion ἔλαιον).[7][8] Thuật ngữ này bắt nguồn từ các tu viện ở miền nam nước Ý, nơi nó đã được sử dụng vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ nhất như một sự thay thế cho thuật ngữ cổ xưa nhất là "naphtha".[9] Sau thời điểm đó, thuật ngữ này đã xuất hiện trong nhiều bản thảo và sách vở, chẳng hạn như trong chuyên luận De Natura Fossilium do nhà khoáng vật học người Đức Georg Bauer xuất bản năm 1546.[10] Sau sự ra đời của ngành công nghiệp dầu mỏ vào nửa sau thế kỷ 19, thuật ngữ này đã trở nên phổ biến rộng rãi để chỉ dạng chất lỏng của các hydrocarbon.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Thời kỳ đầu
[sửa | sửa mã nguồn]Dầu mỏ dưới các hình thái khác nhau đã được con người sử dụng từ thời cổ đại. Hơn 4.300 năm trước, nhựa đường đã được nhắc đến khi người Sumer sử dụng nó để đóng thuyền. Một tấm phiến sét ghi lại truyền thuyết về sự ra đời của Sargon của Akkad có đề cập đến một chiếc giỏ được trát kín bằng rơm và bitum. Hơn 4.000 năm trước, theo lời kể của Herodotus và Diodorus Siculus, nhựa đường đã được dùng trong việc xây dựng các bức tường thành và tháp canh của Babylon; tại đó có những hố dầu lộ thiên gần Ardericca và Babylon, cùng một con suối hắc ín trên đảo Zakynthos.[11] Tại Babylon, dầu mỏ được dùng để làm đường sá, trát kín vỏ tàu thuyền và làm dược liệu y học.[12]
Việc sử dụng dầu mỏ tại Trung Quốc cổ đại đã có lịch sử hơn 2.000 năm. Cuốn Kinh Dịch, một trong những trước tác cổ xưa nhất của Trung Hoa, ghi lại rằng dầu ở trạng thái thô chưa qua tinh chế lần đầu tiên được phát hiện, khai thác và sử dụng tại Trung Quốc vào thế kỷ 1 TCN. Thêm vào đó, người Trung Hoa cũng là những người đầu tiên ghi chép lại việc sử dụng dầu mỏ làm nhiên liệu ngay từ thế kỷ 4 TCN.[13][14][15] Đến năm 347 SCN, dầu đã được khai thác từ các giếng khoan bằng ống tre tại Trung Quốc.[16][17]
Vào thế kỷ thứ 7, dầu mỏ là một trong những thành phần cốt yếu để chế tạo Lửa Hy Lạp, một loại vũ khí phóng hỏa được người Hy Lạp Byzantine sử dụng để chống lại các hạm đội tàu Ả Rập tấn công Constantinople.[18] Dầu thô cũng đã được chưng cất bởi các nhà hóa học Ba Tư, với những mô tả chi tiết được ghi chép trong các cuốn cẩm nang tiếng Ả Rập của Abu Bakr al-Razi.[19]
Vào thế kỷ thứ 9, các mỏ dầu đã được khai thác tại khu vực quanh thành phố Baku, Azerbaijan ngày nay. Những mỏ này được Abu Bakr al-Razi miêu tả vào thế kỷ thứ 10 và sau đó là Marco Polo vào thế kỷ 13, người ghi nhận sản lượng của các giếng dầu này lên tới hàng trăm chuyến tàu chở hàng.[20] Các nhà hóa học Ả Rập và Ba Tư đã chưng cất dầu thô để sản xuất các sản phẩm dễ cháy phục vụ mục đích quân sự. Thông qua vùng lãnh thổ Hồi giáo tại Tây Ban Nha, kỹ thuật chưng cất đã du nhập vào Tây Âu từ thế kỷ 12.[21] Dầu mỏ cũng xuất hiện tại Romania từ thế kỷ 13, được ghi chép lại với tên gọi păcură.[22]
Những hố dầu lộ thiên được đào công phu, sâu từ 4,5 đến 6 mét (15 đến 20 ft), đã được bộ tộc Seneca cùng các nhóm Iroquois khác đào tại Tây Pennsylvania từ khoảng năm 1415–1450. Tướng Pháp Louis-Joseph de Montcalm từng chứng kiến người Seneca sử dụng dầu mỏ cho các ngọn lửa nghi lễ và làm thuốc bôi chữa lành vết thương trong một chuyến thăm tới Pháo đài Duquesne vào năm 1750.[23] Những nhà thám hiểm người Anh đầu tiên đến Myanmar đã ghi nhận một ngành khai thác dầu mỏ phát triển hưng thịnh tại Yenangyaung, nơi vào năm 1795 đã có hàng trăm giếng đào thủ công đang hoạt động sản xuất.[24] Merkwiller-Pechelbronn được coi là địa điểm đầu tiên tại châu Âu nơi dầu mỏ được thăm dò và khai thác sử dụng.
Thế kỷ 19
[sửa | sửa mã nguồn]Vào giữa thế kỷ 19, các giếng dầu phát triển nhanh chóng tại nhiều nơi trên thế giới, dẫu cho danh hiệu "giếng dầu đầu tiên" phụ thuộc vào các tiêu chí đánh giá khác nhau. Năm 1846, một nhóm kỹ sư thuộc Đế quốc Nga dưới sự chỉ đạo của Thiếu tá Alexeyev thuộc Quân đoàn Kỹ sư Khai khoáng Bakinskii đã tình cờ phát hiện ra dầu khi đang khoan thủ công bằng một giàn khoan va đập thô sơ tại Bibiheybət, gần Baku (nay thuộc Azerbaijan), mặc dù mục đích ban đầu của họ không phải là tìm kiếm dầu mỏ.[25] Năm 1853, Ignacy Łukasiewicz, người tìm ra phương pháp chưng cất dầu hỏa từ dầu thô rỉ tự nhiên và phát minh ra chiếc đèn dầu hiện đại đã đào thủ công giếng dầu đầu tiên có chủ đích phục vụ khai thác thương mại tại Bóbrka, Ba Lan, nhằm cung cấp nhiên liệu thắp sáng (giếng này vẫn hoạt động tính đến năm 2025).[26] Một giếng đào thủ công và một nhà máy lọc dầu khác xuất hiện ngay sau đó vào năm 1857 gần Ploiești, Romania. Romania (khi đó là một chư hầu của Đế quốc Ottoman) là quốc gia đầu tiên trên thế giới có sản lượng khai thác dầu thô hàng năm được ghi nhận chính thức trong số liệu thống kê quốc tế là 275 tấn vào năm 1857.[27][28]
Năm 1858, Georg Christian Konrad Hunäus đã tìm thấy một lượng lớn dầu mỏ khi đang khoan tìm than nâu tại Wietze, Đức. Vùng Wietze sau đó đã cung cấp khoảng 80% sản lượng tiêu thụ của Đức trong Thời kỳ Wilhelmine.[29] Hoạt động khai thác tại đây chấm dứt vào năm 1963, nhưng Wietze đã lưu giữ một bảo tàng dầu mỏ từ năm 1970.[30] Cát dầu cũng đã được khai thác từ thế kỷ 18.[31] Tại Wietze, nhựa đường/bitum tự nhiên đã được thăm dò từ thế kỷ 18.[32] Tại cả Pechelbronn lẫn Wietze, công nghệ ngành than đá đã chi phối sâu sắc các kỹ thuật khai thác dầu mỏ.[33]
Năm 1847, nhà hóa học James Young nhận thấy một điểm rỉ dầu mỏ tự nhiên trong mỏ than tại Riddings, Derbyshire, từ đó ông chưng cất ra một loại dầu loãng nhẹ phù hợp để dùng làm dầu thắp đèn, đồng thời thu được một loại dầu đặc hơn thích hợp để bôi trơn máy móc. Năm 1848, Young thành lập một cơ sở kinh doanh nhỏ tinh chế dầu thô.[34] Young cuối cùng đã thành công (bằng cách chưng cất than nến ở nhiệt độ thấp) trong việc tạo ra một chất lỏng tương tự như dầu mỏ, vốn khi được xử lý theo cách thức giống như dầu rỉ tự nhiên sẽ cho ra những sản phẩm tương tự. Young nhận thấy bằng phương pháp chưng cất chậm, ông có thể thu được nhiều chất lỏng hữu ích, một trong số đó được ông đặt tên là "dầu paraffine" vì ở nhiệt độ thấp nó đông đặc lại thành một chất giống như sáp parafin.[34] Quy trình sản xuất các loại dầu này cùng sáp parafin thể rắn từ than đá chính là nội dung bản quyền sáng chế của ông đề ngày 17 tháng 10 năm 1850. Năm 1850, Young & Meldrum cùng Edward William Binney đã hợp tác thành lập công ty mang tên E.W. Binney & Co. tại Bathgate ở West Lothian và E. Meldrum & Co. tại Glasgow; cơ sở của họ tại Bathgate hoàn thành vào năm 1851 và trở thành nhà máy sản xuất dầu thương mại thực thụ đầu tiên trên thế giới sở hữu nhà máy lọc dầu hiện đại đầu tiên.[35]
Nhu cầu về dầu mỏ làm nhiên liệu thắp sáng tại Bắc Mỹ và trên toàn thế giới đã gia tăng nhanh chóng.[36] Giếng dầu đầu tiên ở châu Mỹ được khoan vào năm 1859 bởi Edwin Drake tại nơi ngày nay gọi là Giếng Drake ở Xã Cherrytree, Pennsylvania. Đi kèm với giếng khoan là một công ty khai thác, châm ngòi cho một cơn sốt dầu và sự bành trướng nhanh chóng của ngành công nghiệp dầu khí toàn cầu. Cùng năm đó, các giếng khoan vận hành bằng động cơ bắt đầu xuất hiện tại Tây Virginia.[37][38]
Giếng dầu thương mại đầu tiên tại Canada đi vào vận hành năm 1858 tại Oil Springs, Ontario.[39] Doanh nhân James Miller Williams đã đào nhiều giếng từ năm 1855 đến 1858 trước khi phát hiện một vỉa dầu phong phú nằm sâu 4 mét dưới lòng đất.[40] Williams đã khai thác 1,5 triệu lít dầu thô tính đến năm 1860, phần lớn được tinh chế thành dầu hỏa thắp đèn. Giếng của Williams đã mang lại hiệu quả thương mại một năm trước công trình của Drake tại Pennsylvania, và có thể được coi là giếng dầu thương mại đầu tiên tại Bắc Mỹ.[41] Khám phá tại Oil Springs đã châm ngòi cho một cơn bùng nổ khai thác kéo hàng trăm nhà đầu cơ và công nhân đổ về khu vực này. Kỹ thuật khoan tiếp tục tiến bộ vào năm 1862 khi thợ khoan địa phương Shaw đạt tới độ sâu 62 mét nhờ phương pháp khoan đập bằng cần nhún.[42] Ngày 16 tháng 1 năm 1862, sau một vụ nổ khí tự nhiên, hiện tượng giếng phun dầu đầu tiên của Canada bắt đầu xuất hiện, phun thẳng lên không trung với lưu lượng ghi nhận được là 480 mét khối (3.000 bbl) mỗi ngày.[43] Đến cuối thế kỷ 19, Đế quốc Nga, đặc biệt là công ty Branobel tại Azerbaijan đã vươn lên dẫn đầu về sản lượng sản xuất.[44]
Thế kỷ 20
[sửa | sửa mã nguồn]Vào thập niên 1930, Alfred Treibs đã xác định nguồn gốc sinh học của dầu mỏ, vốn là vấn đề từng gây nhiều tranh cãi trước đó.[45][46]
Quyền tiếp cận dầu mỏ là yếu tố then chốt trong nhiều cuộc xung đột quân sự của thế kỷ 20, bao gồm Chiến tranh thế giới thứ hai, thời kỳ mà các cơ sở dầu khí trở thành tài sản chiến lược quan trọng và là mục tiêu bị ném bom ác liệt.[47] Cuộc tiến công Liên Xô của Đức đã đặt ra mục tiêu đánh chiếm các mỏ dầu Baku, nhằm cung cấp nguồn dầu sống còn cho quân đội Đức vốn đang kiệt quệ do các lệnh phong tỏa.[48]
Hoạt động thăm dò dầu mỏ tại Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 20 đã đưa Hoa Kỳ trở thành nhà sản xuất hàng đầu thế giới vào giữa thế kỷ. Khi sản lượng dầu mỏ tại Mỹ đạt đỉnh vào thập niên 1960, Hoa Kỳ đã bị Ả Rập Xê Út và Liên Xô vượt qua về tổng sản lượng khai thác.[49][50][51]
Trong cuộc Khủng hoảng dầu mỏ 1973, Ả Rập Xê Út cùng các quốc gia Ả Rập khác đã áp đặt lệnh cấm vận dầu mỏ đối với Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Nhật Bản và các nước phương Tây ủng hộ Israel trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur.[52] Tiếp nối sau đó là cuộc Khủng hoảng dầu mỏ 1979 do sự sụt giảm sản lượng dầu bắt nguồn từ cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran, khiến giá dầu tăng hơn gấp đôi. Hai cú sốc giá dầu này đã để lại nhiều tác động ngắn hạn và dài hạn sâu rộng đối với tình hình chính trị và kinh tế toàn cầu.[53] Chúng dẫn tới sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ kéo dài nhờ việc thay thế bằng các nguồn nhiên liệu khác—đặc biệt là than đá và điện hạt nhân—cùng những cải tiến về hiệu quả năng lượng dưới sự thúc đẩy của các chính sách nhà nước.[54] Giá dầu cao cũng kích thích dòng vốn đầu tư vào hoạt động khai thác dầu mỏ tại các quốc gia ngoài OPEC, bao gồm Vịnh Prudhoe tại Alaska, các mỏ ngoài khơi Biển Bắc của Vương quốc Anh và Na Uy, mỏ dầu ngoài khơi Cantarell của Mexico và các mỏ cát dầu tại Canada.[55]
Thế kỷ 21
[sửa | sửa mã nguồn]Khoảng 89% nhu cầu nhiên liệu cho các phương tiện giao thông được đáp ứng bởi dầu mỏ.[56] Dầu mỏ chiếm tới 38% tổng mức tiêu thụ năng lượng tại Hoa Kỳ, nhưng chỉ đóng góp 0,4% vào sản lượng phát điện.[57] Giá trị của dầu mỏ như một nguồn năng lượng đậm đặc, dễ vận chuyển cung cấp lực đẩy cho phần lớn các phương tiện và là nguồn nguyên liệu nền tảng cho nhiều hóa chất công nghiệp đã biến nó thành một trong những hàng hóa quan trọng nhất thế giới. Ba quốc gia khai thác dầu hàng đầu tính đến năm 2018 là Hoa Kỳ, Nga và Ả Rập Xê Út.[58] Vào năm 2018, một phần nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật nứt vỉa thủy lực và khoan ngang, Hoa Kỳ đã vươn lên thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới.[59]
Khoảng 80% trữ lượng dầu mỏ dễ tiếp cận của thế giới nằm tại Trung Đông, trong đó 62,5% thuộc về nhóm năm nước Ả Rập: Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Iraq, Qatar và Kuwait. Một tỷ trọng lớn trong tổng tài nguyên dầu mỏ của thế giới tồn tại dưới các dạng nguồn phi truyền thống, chẳng hạn như bitum tại Cát dầu Athabasca và dầu siêu nặng tại Vành đai Orinoco. Dù một sản lượng dầu đáng kể đã được chiết xuất từ cát dầu, đặc biệt là tại Canada, các rào cản về tiếp vận và kỹ thuật vẫn tiếp tục tồn tại, do quá trình tách dầu đòi hỏi lượng nhiệt và nước rất lớn, khiến hàm lượng năng lượng ròng thu được khá thấp so với dầu thô thông thường. Do đó, các mỏ cát dầu của Canada dự kiến khó có thể cung cấp quá vài triệu thùng mỗi ngày trong tương lai gần.[60][61][62]
Nhiều xung đột địa chính trị hiện đại gắn liền trực tiếp với vấn đề dầu mỏ.[63]
Thành phần
[sửa | sửa mã nguồn]Dầu mỏ bao gồm nhiều cấu tử dạng lỏng, khí và rắn khác nhau. Các hydrocarbon nhẹ hơn là các chất khí gồm metan, etan, propan và butan. Ngoài ra, phần lớn khối lượng chất lỏng và chất rắn chủ yếu là các hợp chất hữu cơ nặng hơn, thường là hydrocarbon (chỉ chứa C và H). Tỷ lệ của các hydrocarbon nhẹ trong hỗn hợp dầu mỏ có sự biến thiên giữa các mỏ dầu khác nhau.[64]
Một giếng dầu chủ yếu khai thác ra dầu thô. Do áp suất ở bề mặt thấp hơn so với trong lòng đất, một phần chất khí sẽ thoát ra khỏi dung dịch hòa tan và được thu hồi (hoặc đốt bỏ) dưới dạng khí đồng hành (associated gas) hoặc khí hòa tan (solution gas). Một giếng khí chủ yếu khai thác ra khí tự nhiên. Tuy nhiên, do nhiệt độ dưới lòng đất cao hơn trên bề mặt, chất khí khai thác lên có thể chứa các hydrocarbon nặng hơn như pentan, exan và heptan ("condensate khí tự nhiên", thường gọi tắt là condensate hay khí ngưng tụ). Condensate có ngoại quan tương tự như xăng và có thành phần tương đồng với một số loại dầu thô nhẹ dễ bay hơi.[65][66]
Các hydrocarbon trong dầu thô phần lớn là ankan, cycloankan cùng nhiều hydrocarbon thơm khác nhau, trong khi các hợp chất hữu cơ khác có chứa nitơ, oxy và lưu huỳnh, cùng một lượng vết kim loại như sắt, niken, đồng và vanadi. Nhiều vỉa chứa dầu còn có vi khuẩn sống cư trú.[67] Thành phần phân tử của dầu thô có sự khác biệt rất lớn giữa các thành tạo địa chất, nhưng tỷ lệ các nguyên tố hóa học lại chỉ dao động trong các giới hạn tương đối hẹp như sau:[68]
| Nguyên tố | Phạm vi tỷ lệ phần trăm |
|---|---|
| Carbon | 83 đến 85% |
| Hydro | 10 đến 14% |
| Nitơ | 0,1 đến 2% |
| Oxy | 0,05 đến 1,5% |
| Lưu huỳnh | 0,05 đến 6,0% |
| Kim loại | < 0,1% |
Bốn nhóm hydrocarbon khác nhau xuất hiện trong dầu thô. Tỷ lệ phần trăm tương đối của từng nhóm có sự biến thiên, quyết định tính chất cơ lý hóa của mỗi loại dầu.[64]
| Nhóm hydrocarbon | Trung bình | Phạm vi |
|---|---|---|
| Ankan (paraffin) | 30% | 15 đến 60% |
| Naphthene | 49% | 30 đến 60% |
| Hydrocarbon thơm | 15% | 3 đến 30% |
| Hợp chất asphaltic | 6% | phần còn lại |
Các ankan từ pentan (C5H12) đến octan (C8H18) được tinh chế thành xăng, các chất từ nonan (C9H20) đến hexadecan (C16H34) thành nhiên liệu diesel, dầu hỏa và nhiên liệu máy bay. Các ankan có hơn 16 nguyên tử carbon có thể được tinh chế thành dầu nhiên liệu (fuel oil) và dầu nhờn bôi trơn. Ở phân đoạn nặng hơn của dải hydrocarbon, sáp parafin là ankan có khoảng 25 nguyên tử carbon, trong khi nhựa đường asphalt có từ 35 nguyên tử trở lên, mặc dù các phân đoạn này thường được đem đi cracking trong các nhà máy lọc dầu hiện đại để chuyển hóa thành các sản phẩm có giá trị cao hơn. Phân đoạn nhẹ nhất, được gọi là các loại khí dầu mỏ, được xử lý theo nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào tính kinh tế. Các khí này hoặc bị đốt bỏ bằng đuốc khí, bán dưới dạng khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), hoặc được sử dụng làm nhiên liệu vận hành chính các lò đốt của nhà máy lọc dầu. Vào mùa đông, butan (C4H10) được phối trộn vào kho xăng thành phẩm với tỷ lệ cao vì áp suất hơi bão hòa cao của nó giúp động cơ khởi động dễ dàng hơn khi trời lạnh. Các hydrocarbon thơm là hydrocarbon không no có chứa một hoặc nhiều vòng benzen. Chúng có xu hướng cháy với ngọn lửa nhiều muội than, và nhiều chất có mùi thơm ngọt ngào. Một số chất trong nhóm này có khả năng gây ung thư.
Các cấu tử khác nhau này được phân tách bằng phương pháp chưng cất phân đoạn tại nhà máy lọc dầu để sản xuất xăng, nhiên liệu máy bay, dầu hỏa và các phân đoạn hydrocarbon khác. Các thành phần trong một mẫu dầu có thể được xác định bằng phương pháp sắc ký khí và khối phổ ký.[70] Do số lượng lớn các hydrocarbon cùng rửa giải trong dầu mỏ, nhiều chất không thể phân tách rạch ròi bằng phương pháp sắc ký khí truyền thống. Hỗn hợp phức hợp chưa phân tách (UCM) này của các hydrocarbon đặc biệt biểu hiện rõ nét khi phân tích các loại dầu bị phong hóa và dịch chiết từ mô của các sinh vật bị phơi nhiễm dầu.
Dầu thô có ngoại quan rất đa dạng tùy thuộc vào thành phần hóa học của nó. Nó thường có màu đen hoặc nâu sẫm (dù cũng có thể có màu ánh vàng, hơi đỏ, hoặc thậm chí ánh xanh lục). Trong vỉa chứa, nó thường được tìm thấy cùng với khí tự nhiên (loại khí nhẹ hơn tạo thành một "mũ khí" nằm phía trên lớp dầu mỏ) và nước mặn (vốn nặng hơn hầu hết các dạng dầu thô nên thường lắng xuống bên dưới). Dầu thô cũng có thể tồn tại ở dạng bán rắn lẫn với cát và nước, chẳng hạn như tại các mỏ cát dầu Athabasca ở Canada, nơi nó thường được gọi là bitum thô. Tại Canada, bitum được coi là một dạng dầu thô sánh đặc như hắc ín, màu đen và dính nhớt, đặc và nặng đến mức nó phải được gia nhiệt hoặc pha loãng trước khi có thể chảy được.[71] Venezuela cũng sở hữu trữ lượng dầu mỏ khổng lồ trong Cát dầu Orinoco, dẫu cho các hydrocarbon bị giữ lại ở đây có độ nhớt thấp hơn ở Canada và thường được gọi là dầu siêu nặng. Các nguồn tài nguyên cát dầu được gọi là dầu phi truyền thống để phân biệt với dầu mỏ có thể khai thác bằng các phương pháp giếng khoan truyền thống. Tính gộp lại, Canada và Venezuela nắm giữ lượng bitum và dầu siêu nặng ước tính khoảng 3,6 ngàn tỷ thùng (570×109 m3), tương đương khoảng gấp đôi tổng trữ lượng dầu mỏ truyền thống của toàn thế giới.[72]
Quá trình hình thành
[sửa | sửa mã nguồn]Dầu mỏ có nguồn gốc hóa thạch
[sửa | sửa mã nguồn]Dầu mỏ là một loại nhiên liệu hóa thạch có nguồn gốc từ các vật liệu hữu cơ hóa thạch, chẳng hạn như động vật phù du và tảo.[46][73] Khối lượng khổng lồ xác sinh vật này lắng xuống đáy biển hoặc đáy hồ, nơi chúng bị bao phủ bởi vùng nước tù đọng (vùng nước không có oxy hòa tan) hoặc trầm tích (như bùn và bột sét) với tốc độ nhanh hơn khả năng phân hủy hiếu khí của chúng. Ở độ sâu khoảng 1 m bên dưới lớp trầm tích này, nồng độ oxy trong nước rất thấp, dưới 0,1 mg/L, tạo nên điều kiện thiếu khí. Nhiệt độ tại đây cũng duy trì ổn định.[73]
Khi các lớp trầm tích tiếp theo tiếp tục lắng tụ xuống đáy biển hoặc đáy hồ, nhiệt độ và áp suất cực lớn bắt đầu tích tụ ở các tầng sâu bên dưới. Quá trình này khiến vật chất hữu cơ biến đổi, thoạt đầu thành một chất dạng sáp được gọi là kerogen (được tìm thấy trong nhiều loại đá phiến dầu trên khắp thế giới) và sau đó, dưới tác động của nhiệt lượng cao hơn, chuyển hóa thành các hydrocarbon thể lỏng và thể khí thông qua một quá trình được gọi là quá trình thoái biến sinh nhiệt. Sự hình thành dầu mỏ diễn ra từ quá trình nhiệt phân hydrocarbon qua nhiều phản ứng chủ yếu là thu nhiệt ở nhiệt độ cao, áp suất cao, hoặc kết hợp cả hai yếu tố.[73][74] Các giai đoạn này được mô tả chi tiết dưới đây.
Phân hủy yếm khí
[sửa | sửa mã nguồn]Trong điều kiện thiếu hụt oxy, vi khuẩn hiếu khí bị ngăn chặn phân hủy các vật chất hữu cơ sau khi chúng bị vùi lấp dưới lớp trầm tích hoặc nước. Tuy nhiên, vi khuẩn kỵ khí lại có khả năng khử sulfat và nitrat có trong khối vật chất này lần lượt thành H2S và N2 bằng cách sử dụng chính khối vật chất đó làm nguồn cung cấp chất phản ứng khác. Nhờ các vi khuẩn kỵ khí này, ban đầu, vật chất hữu cơ bắt đầu bị bẻ gãy chủ yếu thông qua quá trình thủy phân: polysaccharide và protein bị thủy phân tương ứng thành đường đơn và axit amin. Những chất này tiếp tục bị oxy hóa yếm khí với tốc độ nhanh chóng nhờ các enzyme của vi khuẩn: ví dụ, protein trải qua quá trình khử amin oxy hóa tạo ra các axit amin, sau đó tiếp tục phản ứng để tạo thành amoniac và α-keto acid. Về phần mình, các monosaccharide cuối cùng bị phân hủy thành CO2 và metan. Các sản phẩm phân hủy yếm khí của axit amin, monosaccharide, phenol và aldehyde liên kết với nhau tạo thành axit fulvic. Chất béo và sáp không bị thủy phân đáng kể trong các điều kiện êm dịu này.[73]
Hình thành kerogen
[sửa | sửa mã nguồn]Một số hợp chất phenolic sinh ra từ các phản ứng trước đó đóng vai trò như chất diệt khuẩn, đồng thời bộ vi khuẩn Actinomycetales cũng sản sinh ra các hợp chất kháng sinh (chẳng hạn như streptomycin). Do đó, hoạt động của vi khuẩn kỵ khí chấm dứt ở độ sâu khoảng 10 m dưới mặt nước hoặc đáy trầm tích. Hỗn hợp ở độ sâu này bao gồm axit fulvic, chất béo và sáp chưa phản ứng hoặc mới phản ứng một phần, lignin bị biến tính nhẹ, nhựa cây và các hydrocarbon khác.[73] Khi nhiều lớp vật chất hữu cơ tiếp tục lắng đọng xuống đáy biển hoặc lòng hồ, nhiệt độ và áp suất mãnh liệt tích tụ ở các tầng sâu hơn.[74] Hệ quả là các hợp chất trong hỗn hợp này bắt đầu liên kết với nhau theo những phương thức phức tạp chưa được hiểu biết tường tận để tạo thành kerogen. Sự kết hợp này diễn ra theo cơ chế tương tự như cách các phân tử phenol và formaldehyde phản ứng tạo ra nhựa urea-formaldehyde, nhưng quá trình hình thành kerogen phức tạp hơn nhiều do sự đa dạng của các chất tham gia phản ứng. Toàn bộ tiến trình tạo thành kerogen kể từ khi bắt đầu phân hủy yếm khí được gọi là quá trình tạo đá, thuật ngữ chỉ sự biến đổi của vật liệu thông qua quá trình hòa tan và tái kết hợp các thành phần cấu tạo của chúng.[73]
Biến đổi kerogen thành nhiên liệu hóa thạch
[sửa | sửa mã nguồn]Quá trình tạo thành kerogen tiếp diễn đến độ sâu khoảng 1 km tính từ bề mặt Trái Đất, nơi nhiệt độ có thể chạm ngưỡng khoảng 50 °C. Sự hình thành kerogen đánh dấu chặng trung gian giữa vật chất hữu cơ và nhiên liệu hóa thạch: kerogen có thể bị phơi nhiễm trước oxy, bị oxy hóa và tiêu biến, hoặc nó có thể bị chôn vùi sâu hơn bên trong vỏ Trái Đất và chịu tác động của những điều kiện cho phép nó biến đổi chậm rãi thành nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ. Kịch bản thứ hai diễn ra thông qua quá trình thoái biến sinh nhiệt (catagenesis), trong đó các phản ứng chủ yếu là sự tái sắp xếp theo cơ chế gốc tự do của kerogen. Các phản ứng này kéo dài từ hàng ngàn đến hàng triệu năm và hoàn toàn không có sự tham gia của các chất phản ứng từ bên ngoài. Do bản chất gốc tự do của chuỗi phản ứng, kerogen biến đổi theo hai hướng sản phẩm chính: nhóm có tỷ lệ H/C thấp (anthracene hoặc các sản phẩm tương tự) và nhóm có tỷ lệ H/C cao (metan hoặc các sản phẩm tương tự); tức các sản phẩm giàu carbon hoặc giàu hydro. Do quá trình thoái biến sinh nhiệt diễn ra trong hệ kín đối với các chất phản ứng bên ngoài, thành phần hỗn hợp nhiên liệu thu được phụ thuộc trực tiếp vào thành phần của kerogen ban đầu thông qua tỷ lượng phản ứng. Hiện hữu ba loại kerogen: loại I (nguồn gốc từ tảo), loại II (liptinic) và loại III (humic), được hình thành tương ứng chủ yếu từ tảo, sinh vật phù du và thực vật thân gỗ (bao gồm cây thân gỗ, cây bụi và dây leo).[73]
Tiềm năng sinh hydrocarbon và độ trưởng thành nhiệt của đá mẹ sinh dầu thường được đánh giá thông qua phương pháp nhiệt phân Rock-Eval và các phép đo độ phản xạ vitrinite; những phương pháp này cung cấp các chỉ số định lượng về loại vật chất hữu cơ, mức độ trưởng thành sinh nhiệt và khả năng sinh dầu hoặc sinh khí.[75]
Quá trình thoái biến sinh nhiệt mang bản chất nhiệt phân dù nó diễn ra ở mức nhiệt độ tương đối thấp (khi so với các nhà máy nhiệt phân công nghiệp), dao động từ 60 đến vài trăm °C. Phản ứng nhiệt phân có thể xảy ra nhờ khoảng thời gian phản ứng địa chất kéo dài hàng triệu năm. Nhiệt lượng cung cấp cho quá trình thoái biến sinh nhiệt bắt nguồn từ sự phân rã của các đồng vị phóng xạ trong vỏ Trái Đất, đặc biệt là 40K, 232Th, 235U và 238U. Lượng nhiệt này biến thiên theo địa nhiệt độ biến thiên và thường đạt từ 10–30 °C trên mỗi km chiều sâu tính từ bề mặt Trái Đất. Tuy nhiên, các khối xâm nhập magma bất thường có thể tạo ra những điểm tập trung nhiệt lượng cục bộ cao hơn nhiều.[73]
Cửa sổ sinh dầu (khoảng nhiệt độ)
[sửa | sửa mã nguồn]Các nhà địa chất thường gọi khoảng nhiệt độ diễn ra quá trình tạo dầu là "cửa sổ sinh dầu" (oil window).[76][77][73] Dưới ngưỡng nhiệt độ tối thiểu, dầu vẫn bị giữ lại dưới dạng kerogen. Trên ngưỡng nhiệt độ tối đa, dầu bị chuyển hóa thành khí tự nhiên thông qua quá trình cracking nhiệt. Trong một số trường hợp, dầu hình thành ở độ sâu cực lớn có thể di cư và bị bẫy lại ở các tầng nông hơn nhiều. Các mỏ cát dầu Athabasca là một ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng này.[73]
Dầu mỏ phi sinh học
[sửa | sửa mã nguồn]Một cơ chế khác thay thế cho quá trình mô tả ở trên đã được các nhà khoa học Nga đề xuất vào giữa thập niên 1850: giả thuyết về nguồn gốc dầu mỏ phi sinh học (dầu mỏ hình thành bằng các con đường vô cơ), nhưng giả thuyết này mâu thuẫn với các bằng chứng địa chất và địa hóa học thực tế.[78] Các nguồn dầu phi sinh học đã được tìm thấy nhưng chưa bao giờ đạt tới trữ lượng mang lại hiệu quả kinh tế thương mại. Larry Nation thuộc Hiệp hội các nhà Địa chất Dầu khí Hoa Kỳ nhận định: "Tranh cãi không nằm ở chỗ các mỏ dầu phi sinh học có tồn tại hay không, mà là ở chỗ chúng đóng góp bao nhiêu phần vào tổng trữ lượng chung của Trái Đất và các nhà địa chất nên dành bao nhiêu thời gian cùng công sức để tìm kiếm chúng."[79]
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]Ngành công nghiệp dầu mỏ nhìn chung phân loại dầu thô dựa trên vị trí địa lý nơi nó được khai thác (chẳng hạn như West Texas Intermediate, Brent hoặc Oman), tỉ trọng API (thước đo khối lượng riêng trong ngành dầu mỏ) và hàm lượng lưu huỳnh của nó. Dầu thô có thể được coi là nhẹ (light) nếu có khối lượng riêng thấp, nặng (heavy) nếu có khối lượng riêng cao, hoặc trung bình (medium) nếu khối lượng riêng nằm giữa hai mức nhẹ và nặng.[80] Ngoài ra, dầu có thể được gọi là ngọt (sweet) nếu chứa tương đối ít lưu huỳnh hoặc chua (sour) nếu chứa hàm lượng lưu huỳnh đáng kể.[81]
Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí vận chuyển dầu đến nhà máy lọc dầu. Dầu thô nhẹ được ưa chuộng hơn dầu nặng vì mang lại hiệu suất thu hồi xăng cao hơn; trong khi dầu ngọt có giá bán cao hơn dầu chua nhờ ít gây ra các vấn đề về môi trường và đòi hỏi ít công đoạn tinh chế hơn để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về lưu huỳnh đối với nhiên liệu tại các quốc gia tiêu thụ. Mỗi loại dầu thô đều sở hữu các đặc tính phân tử độc nhất, được thể hiện thông qua các phép phân tích đặc tính dầu thô (crude oil assay) tại các phòng thí nghiệm dầu khí.[82]
Các thùng dầu từ một khu vực đã được xác định đặc tính phân tử và phân loại rõ ràng sẽ được dùng làm mốc tham chiếu định giá trên khắp thế giới. Một số loại dầu thô tham chiếu phổ biến gồm:[cần dẫn nguồn]
- West Texas Intermediate (WTI), loại dầu ngọt, nhẹ có chất lượng rất cao, được giao nhận tại Cushing, Oklahoma làm mốc chuẩn cho dầu mỏ Bắc Mỹ.
- Brent Blend, hỗn hợp gồm 15 loại dầu từ các mỏ thuộc hệ thống Brent và Ninian ở Bồn trũng Đông Shetland trên Biển Bắc. Dầu được đưa vào bờ tại cảng đầu mối Sullom Voe ở Shetland. Sản lượng dầu từ châu Âu, châu Phi và dòng dầu Trung Đông chảy sang phương Tây thường được định giá dựa trên loại dầu chuẩn này.
- Dubai-Oman, dùng làm mốc chuẩn cho dầu thô chua Trung Đông xuất sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
- Tapis (từ Malaysia, dùng làm mốc tham chiếu cho dầu nhẹ vùng Viễn Đông).
- Minas (từ Indonesia, dùng làm mốc tham chiếu cho dầu nặng vùng Viễn Đông).
- Giỏ tham chiếu OPEC (OPEC Reference Basket), mức bình quân gia quyền của các hỗn hợp dầu từ nhiều quốc gia thành viên OPEC (Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ).
- Dầu nặng Midway Sunset, mốc tham chiếu để định giá dầu nặng tại California.[83]
- Western Canadian Select, dầu thô chuẩn cho các loại dầu nặng mới nổi có chỉ số axit cao (hàm lượng TAN cao).[84]
Sản lượng khai thác hàng năm của các loại dầu chuẩn này đang có xu hướng suy giảm dần, do đó các loại dầu khác thường là đối tượng thực tế được giao nhận nhiều hơn trên thị trường. Trong khi mức giá tham chiếu có thể áp dụng theo WTI giao tại Cushing, loại dầu thực tế được giao dịch có thể là dầu nặng Canada được chiết khấu là Western Canadian Select giao tại Hardisty, Alberta, và đối với dầu Brent Blend giao tại Shetland, trên thực tế có thể là dầu Russian Export Blend chiết khấu giao tại cảng Primorsk.[85]
Sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi khai thác, dầu mỏ được tinh chế và phân tách, thuận tiện nhất là bằng phương pháp chưng cất phân đoạn thành nhiều sản phẩm phục vụ sử dụng trực tiếp hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, chẳng hạn như xăng, diesel và dầu hỏa cho tới nhựa đường và các hóa chất phản ứng (etylen, propylen, buten, axit acrylic, para-xylen[86]) dùng để sản xuất chất dẻo, thuốc bảo vệ thực vật và dược phẩm.[87] Xét theo thể tích, phần lớn dầu mỏ được chuyển hóa thành nhiên liệu cho động cơ đốt trong. Xét theo giá trị kinh tế, dầu mỏ là nền tảng của ngành công nghiệp hóa dầu, bao gồm nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao như dược phẩm và nhựa. Tính theo thể tích, 84% lượng hydrocarbon có trong dầu mỏ được chuyển hóa thành nhiên liệu.
Nhiên liệu và dầu mỡ bôi trơn
[sửa | sửa mã nguồn]Nhờ mật độ năng lượng cao, tính cơ động vận chuyển dễ dàng cùng nguồn cung tương đối dồi dào, dầu mỏ đã trở thành nguồn năng lượng quan trọng nhất thế giới kể từ giữa thập niên 1950. Về mặt thể tích, dầu mỏ chủ yếu được dùng để lọc thành dầu nhiên liệu và xăng, cả hai đều là những nguồn năng lượng sơ cấp trọng yếu bao gồm xăng, dầu diesel, nhiên liệu phản lực, dầu sưởi cùng các loại dầu nhiên liệu khác và khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG).[88] Gắn liền mật thiết với nhiên liệu cho động cơ đốt trong là dầu nhớt bôi trơn, mỡ bôi trơn và các chất ổn định độ nhớt.
Hóa chất
[sửa | sửa mã nguồn]Nhiều loại dược phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ, dù phải trải qua các quy trình tổng hợp gồm nhiều bước. Y học hiện đại phụ thuộc vào dầu mỏ như một nguồn cung cấp các khối cấu trúc phân tử cơ bản, thuốc thử và dung môi.[89] Tương tự, hầu hết tất cả các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng và thuốc trừ cỏ đều có nguồn gốc từ dầu mỏ. Thuốc bảo vệ thực vật đã tác động sâu sắc đến tuổi thọ con người bằng cách kiểm soát các vật chủ trung gian truyền bệnh và gia tăng năng suất mùa màng. Giống như dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật về bản chất chính là các sản phẩm hóa dầu. Gần như toàn bộ chất dẻo và polyme tổng hợp đều bắt nguồn từ dầu mỏ là nguồn cung cấp các đơn phân (monomer). Anken (olefin) là một nhóm phân tử tiền chất đặc biệt quan trọng trong số này.
Các sản phẩm dẫn xuất khác
[sửa | sửa mã nguồn]- Sáp, được sử dụng trong bao bì đóng gói thực phẩm đông lạnh, cùng với sáp parafin chiết xuất từ dầu mỏ.[90]
- Lưu huỳnh và dẫn xuất của nó là axit sulfuric. Hiđrô sulfua là sản phẩm thu được từ quá trình khử lưu huỳnh khỏi các phân đoạn dầu mỏ. Nó được oxy hóa thành lưu huỳnh nguyên tố và sau đó chế biến thành axit sulfuric.
- Hắc ín và nhựa đường khối lượng lớn.
- Than cốc dầu mỏ, dùng trong các sản phẩm carbon chuyên dụng hoặc làm nhiên liệu rắn.
Ngành công nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Công nghiệp dầu khí bao gồm các hoạt động khai thác, chiết tách, lọc, vận chuyển (thường bằng các tàu dầu và đường ống), và tiếp thị các sản phẩm dầu mỏ. Phần lớn các sản phẩm của ngành công nghiệp này là dầu nhiên liệu và xăng. Dầu mỏ là nguyên liệu thô dùng để sản xuất các sản phẩm hóa học như dược phẩm, dung môi, phân bón, thuốc trừ sâu và nhựa tổng hợp. Ngành công nghiệp này thường được chia thành các phần chính như: thượng nguồn và hạ nguồn. Ngoài ra còn có phần trung nguồn nhưng đôi khi nó được gộp vào phần hạ nguồn.
Dầu mỏ có ý nghĩa quan trong đối với các ngành công nghiệp, và duy trì nền văn minh công nghiệp hóa, và đây cũng là mối quan tâm của một số quốc gia. Dầu chiếm một tỷ lệ lớn trong tiêu thụ năng lượng trên toàn cầu, dao động trong khoảng thấp nhất là 32% ở châu Âu và châu Á lên đến mức cao là 53% ở Trung Đông. Các vùng địa lý khác tiêu thụ năng lượng này còn có: Nam và Trung Mỹ (44%), châu Phi (41%), và Bắc Mỹ (40%). Thế giới tiêu thụ 30 tỷ thùng (4,8 km³) dầu mỗi năm, trong đó các nước phát triển tiêu thụ nhiều nhất. 24% lượng dầu sản xuất năm 2004 được tiêu thụ ở Hoa Kỳ.[91]
Vận tải
[sửa | sửa mã nguồn]Vận tải dầu khí là hoạt động vận chuyển dầu mỏ và các dẫn xuất như xăng.[92] Các sản phẩm dầu mỏ được vận chuyển qua các toa xe lửa xitec, xe bồn đường bộ, tàu chở dầu và mạng lưới đường ống dẫn. Phương thức được sử dụng để lưu chuyển các sản phẩm dầu khí phụ thuộc vào khối lượng vận chuyển và địa điểm tiếp nhận. Các hình thức vận tải trên bộ như đường ống và đường sắt đều có những ưu và nhược điểm riêng. Một trong những điểm khác biệt cốt lõi chính là chi phí gắn liền với việc vận chuyển dầu mỏ qua đường ống hay đường sắt. Những rủi ro trong quá trình lưu chuyển các sản phẩm dầu khí liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường và nguy cơ tràn đổ. Dầu mỏ là chất cực kỳ khó làm sạch và có độc tính rất cao đối với động vật sống cùng môi trường sinh thái xung quanh.
Vào thập niên 1950, chi phí vận chuyển đường biển chiếm tới 33% giá dầu thô vận chuyển từ Vịnh Ba Tư đến Hoa Kỳ,[93] nhưng nhờ sự phát triển của các loại siêu tàu chở dầu vào thập niên 1970, chi phí vận tải đã giảm xuống chỉ còn 5% giá bán của dầu vùng Vịnh tại Mỹ.[93] Tỷ trọng của chi phí vận chuyển trên tổng giá thành cuối cùng của hàng hóa giao nhận thậm chí đã giảm xuống dưới mức 3% vào năm 2010.
Giá cả
[sửa | sửa mã nguồn]Giá dầu thường là giá giao ngay của một thùng dầu thô chuẩn giá tham chiếu cho người mua và người bán dầu thô như West Texas Middle (WTI), Brent Crude, Dubai Crude, OPEC Reference Basket, Tapis crude, Bonny Light, dầu Urals, Isthmus và Western Canada Select (WCS).[94][95] Có sự khác biệt về giá của một thùng dầu dựa trên cấp độ của nó được xác định bởi các yếu tố như trọng lực riêng hoặc tỷ trọng API và hàm lượng lưu huỳnh của nó và vị trí của nó, chẳng hạn có gần với cảng biển và nhà máy lọc dầu hay không. Các loại dầu thô nặng hơn, chua hơn khi vị trí tiếp cận không có gần cảng biển, chẳng hạn như Western Canada Select thì rẻ hơn dầu nhẹ hơn, ngọt hơn như WTI.
Theo báo cáo EIA tháng 1 năm 2020, giá dầu thô Brent trung bình năm 2019 là 64 USD / thùng so với 71 USD / thùng vào năm 2018. Giá trung bình của dầu thô WTI là 57 đô la / thùng vào năm 2019 so với 64 đô la năm 2018.
Giá dầu giảm đáng kể trong năm 2020 do đại dịch COVID-19 và cuộc chiến giá dầu Nga Nga Saudi năm 2020.[96][97][98][99][100][101][102] Vào ngày 20 tháng 4, lần đầu tiên các hợp đồng tương lai của WTI Crude giảm xuống dưới 0 đô la trong lịch sử,[103] và ngày hôm sau Brent Crude giảm xuống dưới 20 đô la mỗi thùng.
Thương mại
[sửa | sửa mã nguồn]Dầu thô được giao dịch dưới dạng hợp đồng tương lai trên cả hai sàn giao dịch NYMEX và ICE.[104] Hợp đồng tương lai là những thỏa thuận mang tính ràng buộc, trong đó bên mua và bên bán đồng ý mua bán và giao nhận một khối lượng dầu thô vật chất xác định vào một ngày cụ thể trong tương lai. Mỗi hợp đồng quy định quy mô theo bội số của 1.000 thùng dầu và có thể được xác lập kỳ hạn giao dịch lên tới chín năm trong tương lai.[105]
Tình hình sử dụng theo quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn]Tiêu thụ
[sửa | sửa mã nguồn]Theo ước tính năm 2021 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), toàn thế giới tiêu thụ 97,26 triệu thùng dầu mỗi ngày.[106]
Bảng dưới đây sắp xếp khối lượng dầu mỏ tiêu thụ năm 2011 theo đơn vị nghìn thùng (1.000 bbl)/ngày và nghìn mét khối (1.000 m3)/ngày:[107][108]
| Quốc gia tiêu thụ 2011 | (1.000 bbl/ ngày) |
(1.000 m3/ ngày) |
Dân số (triệu người) |
bbl/năm bình quân đầu người |
m3/năm bình quân đầu người |
Sản lượng quốc gia/ tiêu thụ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Hoa Kỳ 1 | 18.835,5 | 2.994,6 | 314 | 21,8 | 3,47 | 0,51 |
| Trung Quốc | 9.790,0 | 1.556,5 | 1345 | 2,7 | 0,43 | 0,41 |
| Nhật Bản 2 | 4.464,1 | 709,7 | 127 | 12,8 | 2,04 | 0,03 |
| Ấn Độ 2 | 3.292,2 | 523,4 | 1198 | 1 | 0,16 | 0,26 |
| Nga 1 | 3.145,1 | 500,0 | 140 | 8,1 | 1,29 | 3,35 |
| Ả Rập Xê Út (OPEC) | 2.817,5 | 447,9 | 27 | 8,1 | 1,29 | 3,64 |
| Brasil | 2.594,2 | 412,4 | 193 | 4,9 | 0,78 | 0,99 |
| Đức 2 | 2.400,1 | 381,6 | 82 | 10,7 | 1,70 | 0,06 |
| Canada | 2.259,1 | 359,2 | 33 | 24,6 | 3,91 | 1,54 |
| Hàn Quốc 2 | 2.230,2 | 354,6 | 48 | 16,8 | 2,67 | 0,02 |
| Mexico 1 | 2.132,7 | 339,1 | 109 | 7,1 | 1,13 | 1,39 |
| Pháp 2 | 1.791,5 | 284,8 | 62 | 10,5 | 1,67 | 0,03 |
| Iran (OPEC) | 1.694,4 | 269,4 | 74 | 8,3 | 1,32 | 2,54 |
| Vương quốc Anh 1 | 1.607,9 | 255,6 | 61 | 9,5 | 1,51 | 0,93 |
| Ý 2 | 1.453,6 | 231,1 | 60 | 8,9 | 1,41 | 0,10 |
Nguồn: Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ[109]
Dữ liệu dân số:[110]
1 Đỉnh khai thác dầu đã qua tại quốc gia này
2 Quốc gia này không phải là nhà sản xuất dầu mỏ lớn
- Lượng phát thải carbon hóa thạch toàn cầu, một chỉ số phản ánh mức tiêu thụ, từ năm 1800 đến 2010.Tổng cộngDầu mỏ
- Tỷ lệ sử dụng năng lượng toàn cầu mỗi năm từ 1970 đến 2017.[111]
- Mức tiêu thụ dầu mỏ hàng ngày từ 1980 đến 2006.
- Mức tiêu thụ dầu mỏ tính theo tỷ lệ phần trăm trên tổng lượng theo từng khu vực từ 1980 đến 2006:Hoa KỳChâu ÂuChâu Á và Châu Đại Dương.
- Mức tiêu thụ dầu mỏ từ 1980 đến 2007 theo khu vực.
Sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Theo thuật ngữ ngành dầu khí, sản xuất (production) ám chỉ khối lượng dầu thô được khai thác và thu hồi từ vỉa chứa, chứ không phải việc tạo ra sản phẩm theo nghĩa đen.
| Quốc gia | Sản lượng dầu mỏ (bbl/ngày, 2016)[113] | |
|---|---|---|
| 1 | 10.551.497 | |
| 2 | 10.460.710 | |
| 3 | 8.875.817 | |
| 4 | 4.451.516 | |
| 5 | 3.990.956 | |
| 6 | 3.980.650 | |
| 7 | 3.662.694 | |
| 8 | 3.106.077 | |
| 9 | 2.923.825 | |
| 10 | 2.515.459 | |
| 11 | 2.276.967 | |
| 12 | 2.186.877 | |
| 13 | 1.999.885 | |
| 14 | 1.769.615 | |
| 15 | 1.647.975 | |
| 16 | 1.595.199 | |
| 17 | 1.522.902 | |
| 18 | 1.348.361 | |
| 19 | 1.006.841 | |
| 20 | 939.760 |
Xuất khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]Xếp theo thứ tự xuất khẩu ròng trong các năm 2011, 2009 và 2006 tính theo nghìn bbl/ngày và nghìn m3/ngày:
| # | Quốc gia xuất khẩu | 103bbl/ngày (2011) | 103m3/ngày (2011) | 103bbl/ngày (2009) | 103m3/ngày (2009) | 103bbl/ngày (2006) | 103m3/ngày (2006) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ả Rập Xê Út (OPEC) | 8.336 | 1.325 | 7.322 | 1.164 | 8.651 | 1.376 |
| 2 | Nga 1 | 7.083 | 1.126 | 7.194 | 1.144 | 6.565 | 1.044 |
| 3 | Iran (OPEC) | 2.540 | 403 | 2.486 | 395 | 2.519 | 401 |
| 4 | Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (OPEC) | 2.524 | 401 | 2.303 | 366 | 2.515 | 400 |
| 5 | Kuwait (OPEC) | 2.343 | 373 | 2.124 | 338 | 2.150 | 342 |
| 6 | Nigeria (OPEC) | 2.257 | 359 | 1.939 | 308 | 2.146 | 341 |
| 7 | Iraq (OPEC) | 1.915 | 304 | 1.764 | 280 | 1.438 | 229 |
| 8 | Angola (OPEC) | 1.760 | 280 | 1.878 | 299 | 1.363 | 217 |
| 9 | Na Uy 1 | 1.752 | 279 | 2.132 | 339 | 2.542 | 404 |
| 10 | Venezuela (OPEC) 1 | 1.715 | 273 | 1.748 | 278 | 2.203 | 350 |
| 11 | Algérie (OPEC) 1 | 1.568 | 249 | 1.767 | 281 | 1.847 | 297 |
| 12 | Qatar (OPEC) | 1.468 | 233 | 1.066 | 169 | – | – |
| 13 | Canada 2 | 1.405 | 223 | 1.168 | 187 | 1.071 | 170 |
| 14 | Kazakhstan | 1.396 | 222 | 1.299 | 207 | 1.114 | 177 |
| 15 | Azerbaijan 1 | 836 | 133 | 912 | 145 | 532 | 85 |
| 16 | Trinidad và Tobago 1 | 177 | 112 | 167 | 160 | 155 | 199 |
Nguồn: Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ[114]
1 Đỉnh khai thác đã qua tại quốc gia này
2 Số liệu thống kê của Canada khá phức tạp do thực tế nước này vừa nhập khẩu vừa xuất khẩu dầu thô, đồng thời lọc hóa khối lượng lớn dầu để cung ứng cho thị trường Hoa Kỳ. Đây là nguồn cung ứng nhập khẩu dầu mỏ và sản phẩm dầu khí hàng đầu của Hoa Kỳ, với mức bình quân đạt 2.500.000 bbl/d (400.000 m3/d) vào tháng 8 năm 2007.[115]
Tổng sản lượng khai thác/tiêu thụ toàn cầu (tính đến năm 2005) đạt xấp xỉ 84 triệu thùng trên ngày (13.400.000 m3/d).
Nhập khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]Xếp theo thứ tự nhập khẩu ròng trong các năm 2011, 2009 và 2006 tính theo nghìn bbl/ngày và nghìn m3/ngày:
| # | Quốc gia nhập khẩu | 103bbl/ngày (2011) | 103m3/ngày (2011) | 103bbl/ngày (2009) | 103m3/ngày (2009) | 103bbl/ngày (2006) | 103m3/ngày (2006) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Hoa Kỳ 1 | 8.728 | 1.388 | 9.631 | 1.531 | 12.220 | 1.943 |
| 2 | Trung Quốc | 5.487 | 872 | 4.328 | 688 | 3.438 | 547 |
| 3 | Nhật Bản | 4.329 | 688 | 4.235 | 673 | 5.097 | 810 |
| 4 | Ấn Độ | 2.349 | 373 | 2.233 | 355 | 1.687 | 268 |
| 5 | Đức | 2.235 | 355 | 2.323 | 369 | 2.483 | 395 |
| 6 | Hàn Quốc | 2.170 | 345 | 2.139 | 340 | 2.150 | 342 |
| 7 | Pháp | 1.697 | 270 | 1.749 | 278 | 1.893 | 301 |
| 8 | Tây Ban Nha | 1.346 | 214 | 1.439 | 229 | 1.555 | 247 |
| 9 | Ý | 1.292 | 205 | 1.381 | 220 | 1.558 | 248 |
| 10 | Singapore | 1.172 | 186 | 916 | 146 | 787 | 125 |
| 11 | Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) | 1.009 | 160 | 944 | 150 | 942 | 150 |
| 12 | Hà Lan | 948 | 151 | 973 | 155 | 936 | 149 |
| 13 | Thổ Nhĩ Kỳ | 650 | 103 | 650 | 103 | 576 | 92 |
| 14 | Bỉ | 634 | 101 | 597 | 95 | 546 | 87 |
| 15 | Thái Lan | 592 | 94 | 538 | 86 | 606 | 96 |
Nguồn: Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ[116]
Các quốc gia tiêu thụ không có nguồn khai thác
[sửa | sửa mã nguồn]Những quốc gia có sản lượng khai thác dầu mỏ chỉ chiếm từ 10% trở xuống so với mức tiêu thụ nội địa.
| # | Quốc gia tiêu thụ | (bbl/ngày) | (m3/ngày) |
|---|---|---|---|
| 1 | Nhật Bản | 5.578.000 | 886.831 |
| 2 | Đức | 2.677.000 | 425.609 |
| 3 | Hàn Quốc | 2.061.000 | 327.673 |
| 4 | Pháp | 2.060.000 | 327.514 |
| 5 | Ý | 1.874.000 | 297.942 |
| 6 | Tây Ban Nha | 1.537.000 | 244.363 |
| 7 | Hà Lan | 946.700 | 150.513 |
| 8 | Thổ Nhĩ Kỳ | 575.011 | 91.663 |
Nguồn: CIA World Factbook
Tác động môi trường
[sửa | sửa mã nguồn]Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]Tính đến năm 2018[cập nhật], khoảng một phần tư lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu hàng năm là khí carbon dioxide sinh ra từ quá trình đốt cháy dầu mỏ (cùng với lượng khí metan rò rỉ từ ngành công nghiệp này).[118][119][a] Cùng với việc đốt than đá, hoạt động đốt dầu mỏ là nguyên nhân lớn nhất làm gia tăng nồng độ CO2 trong khí quyển.[120][121] Lượng CO2 trong khí quyển đã gia tăng trong suốt 150 năm qua lên các mức hiện nay vượt quá 415 ppmv,[122] so với mức 180–300 ppmv của 800 nghìn năm trước đó.[123][124][125] Sự gia tăng nhiệt độ tại Bắc Cực đã làm suy giảm diện tích băng trôi tối thiểu tại Bắc Cực xuống còn 4.320.000 km2 (1.670.000 dặm vuông Anh), hao hụt gần một nửa kể từ khi các phép đo vệ tinh bắt đầu được thực hiện vào năm 1979.[126]
Axit hóa đại dương là hiện tượng gia tăng độ axit của các đại dương trên Trái Đất do hấp thụ lượng CO2 từ bầu khí quyển. Trạng thái bão hòa của canxi cacbonat giảm xuống khi đại dương hấp thụ carbon dioxide.[127] Sự gia tăng độ axit này kìm hãm toàn bộ sinh vật biển, tác động nghiêm trọng hơn đối với các sinh vật nhỏ cũng như các sinh vật có vỏ như sò điệp.[128]
Khai thác
[sửa | sửa mã nguồn]Khai thác dầu thực chất là việc đưa dầu ra khỏi vỉa chứa (bể tích tụ dầu). Có nhiều phương pháp tách dầu khỏi vỉa chứa, ví dụ: rung lắc cơ học,[129] tạo nhũ tương nước trong dầu, và dùng các loại hóa chất chuyên dụng gọi là chất phá nhũ để tách dầu ra khỏi nước. Hoạt động khai thác dầu mỏ rất tốn kém và thường gây phương hại đến môi trường. Thăm dò và khai thác dầu ngoài khơi làm xáo trộn môi trường biển xung quanh.[130]
Sự cố tràn dầu
[sửa | sửa mã nguồn]Các vụ tràn dầu thô và nhiên liệu tinh chế do tai nạn tàu chở dầu đã hủy hoại các hệ sinh thái tự nhiên và sinh kế của con người tại Alaska, Vịnh Mexico, Quần đảo Galápagos, Pháp và nhiều nơi khác. Khối lượng dầu tràn trong các vụ tai nạn dao động từ vài trăm tấn đến hàng trăm nghìn tấn (chẳng hạn như Vụ tràn dầu Deepwater Horizon, SS Atlantic Empress, Amoco Cadiz). Những vụ tràn dầu quy mô nhỏ hơn cũng đã được chứng minh là gây tác động khổng lồ lên hệ sinh thái, tiêu biểu như Sự cố tràn dầu Exxon Valdez.
Sự cố tràn dầu trên biển nhìn chung gây thiệt hại nặng nề hơn nhiều so với trên đất liền, bởi vệt dầu loang có thể lan rộng hàng trăm dặm vuông tạo thành lớp màng bao phủ bờ biển. Lớp dầu này có thể bám dính và tiêu diệt các loài chim biển, động vật có vú, động vật có vỏ và các sinh vật khác. Tràn dầu trên đất liền dễ khoanh vùng và khống chế hơn nếu có thể nhanh chóng dùng máy ủi đắp các đê đất tạm thời quanh vị trí tràn trước khi phần lớn lượng dầu thoát ra ngoài, đồng thời các loài động vật trên cạn cũng dễ dàng tránh xa vùng dầu hơn.
Việc kiểm soát các sự cố tràn dầu rất nan giải, đòi hỏi các giải pháp ứng phó tình thế và thường tiêu tốn lượng lớn nhân lực. Việc ném bom và thiết bị cháy từ máy bay xuống xác tàu đắm SS Torrey Canyon mang lại kết quả rất hạn chế; các kỹ thuật hiện đại hướng tới việc hút dầu ra khỏi xác tàu đắm, tương tự như trong Sự cố tràn dầu Prestige hay vụ tràn dầu từ tàu Erika.[131]
Mặc dù dầu thô chủ yếu bao gồm các hydrocarbon khác nhau, một số hợp chất dị vòng chứa nitơ như pyridine, picoline và quinoline được ghi nhận là các chất ô nhiễm đi kèm với dầu thô cũng như các cơ sở chế biến đá phiến dầu hoặc than đá, đồng thời cũng được tìm thấy tại các địa điểm tồn dư xử lý gỗ. Những hợp chất này có độ tan trong nước rất cao nên có xu hướng hòa tan và phát tán theo dòng nước. Một số loài vi khuẩn tồn tại tự nhiên như Micrococcus, Arthrobacter và Rhodococcus đã được chứng minh là có khả năng phân hủy các chất ô nhiễm này.[132]
Vì dầu mỏ là một chất xuất hiện tự nhiên, sự hiện diện của nó trong môi trường không nhất thiết hoàn toàn do các nguyên nhân nhân tạo như tai nạn hoặc các hoạt động thường nhật (thăm dò địa chấn, khoan, khai thác, lọc dầu và đốt cháy nhiên liệu). Các hiện tượng như điểm rỉ tự nhiên[133] và hố hắc ín là ví dụ về những khu vực chịu tác động của dầu mỏ mà không hề có sự can thiệp của con người.
Cục hắc ín
[sửa | sửa mã nguồn]Cục hắc ín là một khối dầu thô vón cục (tránh nhầm lẫn với tar, một sản phẩm nhân tạo chiết xuất từ gỗ thông hoặc tinh chế từ dầu mỏ) đã trải qua quá trình phong hóa sau khi trôi nổi trên đại dương. Các cục hắc ín là chất gây ô nhiễm môi trường nước ở hầu hết các hệ sinh thái, mặc dù chúng có thể hình thành tự nhiên, chẳng hạn như ở Eo biển Santa Barbara thuộc California[134][135] hoặc ở Vịnh Mexico ngoài khơi Texas.[136] Mật độ tập trung và đặc điểm của chúng được dùng để đánh giá quy mô của các vụ tràn dầu. Thành phần của chúng có thể được dùng để truy nguyên nguồn gốc phát sinh,[137][138] và các cục hắc ín có thể bị phát tán đi những khoảng cách rất xa bởi các dòng hải lưu sâu.[135] Chúng bị phân hủy chậm chạp bởi các loài vi khuẩn, bao gồm Chromobacterium violaceum, Cladosporium resinae, Bacillus submarinus, Micrococcus varians, Pseudomonas aeruginosa, Candida marina và Saccharomyces estuari.[134]
Cá voi
[sửa | sửa mã nguồn]James S. Robbins lập luận rằng sự xuất hiện của dầu hỏa tinh chế từ dầu mỏ đã cứu một số loài cá voi lớn khỏi nguy cơ tuyệt chủng bằng cách cung cấp một chất thay thế rẻ tiền cho dầu cá voi, qua đó loại bỏ động lực kinh tế của hoạt động săn bắt cá voi bằng thuyền hở,[139] nhưng những học giả khác lại cho rằng nhiên liệu hóa thạch thực chất đã thúc đẩy hoạt động săn bắt cá voi với phần lớn số lượng cá voi bị giết hại trong thế kỷ 20.[140]
Các nguồn năng lượng khác
[sửa | sửa mã nguồn]Do trữ lượng dầu mỏ có hạn nên các nguồn nhiên liệu tái sinh như năng lượng mặt trời, năng lượng gió đang được tìm cách sử dụng với một hiệu quả kinh tế đáng kể. Tế bào nhiên liệu (fuel cell), sử dụng hiđrô làm nguyên liệu, cũng là một ngành công nghệ mới có nhiều triển vọng để thay thế cho dầu mỏ trong tương lai.
Quan hệ quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]Quyền kiểm soát sản lượng khai thác dầu mỏ là động lực quan trọng định hình các mối quan hệ quốc tế trong phần lớn thế kỷ 20 và 21.[141] Các tổ chức như OPEC đã nắm giữ một vai trò đặc biệt lớn trong nền chính trị quốc tế. Một số nhà sử học và bình luận viên đã gọi thời kỳ này là "Kỷ nguyên Dầu mỏ".[141] Cùng với sự trỗi dậy của năng lượng tái tạo và những nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu, một số nhà bình luận dự đoán sẽ có một sự tái cân bằng quyền lực quốc tế, dịch chuyển dần ra xa khỏi các quốc gia dầu mỏ.[cần dẫn nguồn]
Tham nhũng
[sửa | sửa mã nguồn]"Địa tô dầu mỏ" (oil rents) thường được mô tả là có mối liên hệ mật thiết với nạn tham nhũng trong các tài liệu chính trị học.[142] Một nghiên cứu năm 2011 chỉ ra rằng sự gia tăng địa tô dầu mỏ làm gia tăng tham nhũng tại các quốc gia có sự can thiệp sâu của chính phủ vào hoạt động sản xuất dầu khí. Nghiên cứu phát hiện việc gia tăng nguồn thu từ địa tô dầu mỏ "làm suy giảm đáng kể các quyền chính trị". Các tác giả nghiên cứu nhận định rằng nguồn lợi từ khai thác dầu mỏ đã mang lại cho giới chính khách "động lực mở rộng các quyền tự do dân sự nhưng lại cắt giảm các quyền chính trị khi xuất hiện các khoản lợi nhuận dầu mỏ bất ngờ nhằm né tránh việc tái phân phối của cải và hạn chế nguy cơ xung đột".[143]
Xung đột
[sửa | sửa mã nguồn]Hoạt động khai thác dầu mỏ đã gắn liền với các cuộc xung đột trong suốt nhiều năm, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người.[144] Các mỏ dầu mỏ trên thế giới chỉ tập trung tại một số ít quốc gia.[145][146] Xung đột có thể bùng phát khi một số nước từ chối cắt giảm sản lượng khai thác dầu, khiến các quốc gia khác đáp trả bằng cách đẩy mạnh sản lượng của chính họ, châm ngòi cho một cuộc chiến thương mại tương tự như diễn biến trong Chiến tranh giá dầu Nga–Ả Rập Xê Út 2020.[147] Những xung đột khác bắt nguồn từ tham vọng thâu tóm tài nguyên dầu mỏ hoặc tranh chấp các vùng lãnh thổ chứa nguồn tài nguyên này, tiêu biểu như trong cuộc Chiến tranh Iran – Iraq.[148]
OPEC
[sửa | sửa mã nguồn]Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC /ˈoʊpɛk/ OH-pek) là một cartel liên chính phủ tạo điều kiện hợp tác giữa các quốc gia sản xuất dầu hàng đầu và phụ thuộc vào dầu mỏ nhằm gây ảnh hưởng tập thể lên thị trường dầu mỏ toàn cầu và tối đa hóa lợi nhuận. Tổ chức được thành lập vào ngày 14 tháng 9 năm 1960 tại Baghdad bởi năm thành viên sáng lập đầu tiên: Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Xê Út và Venezuela. Tổ chức này hiện bao gồm 11 quốc gia thành viên, chiếm 38% sản lượng dầu mỏ toàn cầu vào năm 2022.[149][150] Ước tính có tới 79,5% trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh của thế giới nằm tại các quốc gia thành viên OPEC, trong đó riêng khu vực Trung Đông đã chiếm 67,2% tổng trữ lượng của toàn OPEC.[151][152]
Thông qua hàng loạt bước đi trong thập niên 1960 và 1970, OPEC đã tái cấu trúc hệ thống khai thác dầu mỏ toàn cầu theo hướng có lợi cho các quốc gia khai thác dầu và xóa bỏ vị thế độc quyền nhóm của các tập đoàn dầu khí chi phối thuộc khối Anh-Mỹ, tức nhóm "Bảy chị em" .[153] Vào thập niên 1970, các biện pháp hạn chế sản lượng dầu đã dẫn tới sự leo thang phi mã của giá dầu, để lại những hệ quả sâu rộng và kéo dài đối với nền kinh tế toàn cầu. Kể từ thập niên 1980, OPEC chỉ còn tác động hạn chế đến nguồn cung dầu mỏ và sự ổn định giá cả của thế giới, do các quốc gia thành viên thường xuyên gian lận đối với các cam kết chung của tổ chức, và do các cam kết của thành viên thực chất chỉ phản ánh những gì họ vẫn sẽ làm ngay cả khi không có OPEC.[154]
Sự ra đời của OPEC đánh dấu bước ngoặt tiến tới chủ quyền quốc gia đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các quyết định của OPEC đã giữ một vai trò nổi bật trên thị trường dầu mỏ toàn cầu cũng như trong quan hệ quốc tế. Các nhà kinh tế học coi OPEC là một ví dụ kinh điển trong sách giáo khoa về mô hình cartel,[155] tức một nhóm mà các thành viên hợp tác nhằm giảm thiểu cạnh tranh trên thị trường và thu về lợi nhuận độc quyền.
Các thành viên OPEC hiện tại bao gồm[ref] Algérie, Guinea Xích Đạo, Gabon, Iran, Iraq, Kuwait, Libya, Nigeria, Cộng hòa Congo, Ả Rập Xê Út và Venezuela. Các cựu thành viên bao gồm Angola, Ecuador, Indonesia, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.[156] OPEC+ là một khối liên minh mở rộng bao gồm các thành viên OPEC và các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ khác. Nhóm được thành lập vào cuối năm 2016 nhằm kiểm soát tốt hơn thị trường dầu thô toàn cầu.[157] Canada, Ai Cập, Na Uy và Oman từng tham dự một số cuộc họp với tư cách quan sát viên. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã rời cả OPEC và OPEC+ vào năm 2026.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "EIA Energy Kids – Oil (petroleum)". www.eia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Donev, Jason. "Oil formation". Energy Education, University of Calgary. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Krauss, Clifford; Mouawad, Jad (ngày 1 tháng 3 năm 2011). "Libyan tremors threaten to rattle the oil world". The Hindu. Chennai, India. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2011.
- ↑ "The Economic Benefits of Oil & Gas". Department of Energy. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2024.
- ↑ Bullard, Nathaniel (ngày 9 tháng 12 năm 2021). "Peak Oil Demand Is Coming But Not So Soon". BNN, Bloomberg News. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2021.
- ↑ R, Tom; all; Warren, Hayley. "Peak Oil Is Already Here" (bằng tiếng Anh). Bloomberg.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "petroleum". The American Heritage Dictionary of the English Language. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Petroleum". The Free Dictionary. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2017.
- ↑ van Dijk, J.P. (2022). Unravelling the Maze of Scientific Writing Through the eras: On the Origins of the Terms Hydrocarbon, Petroleum, Natural Gas, and Methane. Amazon Publishers. tr. 166. ISBN 979-8-3539-8917-2.
- ↑ Bauer, Georg (1955) [1546]. De Natura Fossilium. Bandy, Mark Chance; Bandy, Jean A. biên dịch. Mineola, NY: Dover.
- ↑
Một hoặc nhiều câu trước bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: Redwood, Boverton (1911). "Petroleum". Trong Chisholm, Hugh (biên tập). Encyclopædia Britannica. Quyển 21 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press. tr. 316.
- ↑ Reinicke, Kurt M.; Hueni, Greg; Liermann, Norbert; Oppelt, Joachim; Reichetseder, Peter; Unverhaun, Wolfram (2014). "Oil and Gas, 1. Introduction". Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry. tr. 1–14. doi:10.1002/14356007.a23_117.pub2. ISBN 978-3-527-30673-2.
- ↑ Zhiguo, Gao (1998). Environmental regulation of oil and gas. London: Kluwer Law International. tr. 8. ISBN 978-90-411-0726-8. OCLC 39313498.
- ↑ Deng, Yinke (2011). Ancient Chinese Inventions. Cambridge University Press. tr. 40. ISBN 978-0-521-18692-6.
- ↑ Burke, Michael (2008). Nanotechnology: The Business. Taylor & Francis. tr. 3. ISBN 978-1-4200-5399-9.
- ↑ Totten, George E. "ASTM International – Standards Worldwide". astm.org. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Dalvi, Samir (2015). Fundamentals of Oil & Gas Industry for Beginners. Notion Press. ISBN 978-93-5206-419-9.
- ↑ "Greek fire". Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2023.
- ↑ Forbes, Robert James (1958). Studies in Early Petroleum History. Brill Publishers. tr. 149. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019.
- ↑ Salim Al-Hassani (2008). "1000 Years of Missing Industrial History". Trong Emilia Calvo Labarta; Mercè Comes Maymo; Roser Puig Aguilar; Mònica Rius Pinies (biên tập). A shared legacy: Islamic science East and West. Edicions Universitat Barcelona. tr. 57–82 [63]. ISBN 978-84-475-3285-8.
- ↑ Joseph P. Riva Jr.; Gordon I. Atwater. "petroleum". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008.
- ↑ Istoria Romaniei, Vol II, tr. 300, 1960
- ↑ Keoke, Emory Dean; Porterfield, Kay Marie (2003). American Indian Contributions to the World: 15,000 Years of Inventions and Innovations. Facts on File. tr. 199. ISBN 978-0-8160-5367-4.
- ↑ Longmuir, Marilyn V. (2001). Oil in Burma: the extraction of "earth-oil" to 1914. Bangkok: White Lotus Press. tr. 329. ISBN 978-974-7534-60-3. OCLC 48517638.
- ↑ Matveichuk, Alexander A (2004). "Intersection of Oil Parallels: Historical Essays". Russian Oil and Gas Institute.
- ↑ "Skansen Przemysłu Naftowego w Bóbrce / Museum of Oil Industry at Bobrka". ngày 19 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "The History Of Romanian Oil Industry". rri.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2009.
- ↑ Thomas Eakins. "Scenes from Modern Life: World Events: 1844–1856". pbs.org. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Lucius, Robert von (ngày 23 tháng 6 năm 2009). "Deutsche Erdölförderung: Klein-Texas in der Lüneburger Heide". FAZ.NET (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "Deutsches Erdölmuseum Wietze". www.erdoelmuseum.de. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "The oil wells of Alsace; a discovery made more than a century ago. What a Pennsylvania operator saw abroad, primitive methods of obtaining oil, the process similar to that used in coal mining" (PDF). The New York Times. ngày 23 tháng 2 năm 1880. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018.
- ↑ Erdöl in Wietze . Horb am Neckar: Geiger. 1994. ISBN 978-3-89264-910-6. OCLC 75489983.
- ↑ Karlsch, Rainer; Stokes, Raymond G. (2003). Faktor Öl: die Mineralölwirtschaft in Deutschland 1859–1974. Stokes, Raymond G. Munich: C.H. Beck. ISBN 978-3-406-50276-7. OCLC 52134361.
- 1 2 Russell, Loris S. (2003). A Heritage of Light: Lamps and Lighting in the Early Canadian Home. University of Toronto Press. ISBN 978-0-8020-3765-7.
- ↑ By, Undiscovered Scotland. "James Young: Biography on Undiscovered Scotland". www.undiscoveredscotland.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Maugeri, Leonardo (2005). The age of oil: the mythology, history, and future of the world's most controversial resource (ấn bản thứ 1). Guilford, CN: Lyons Press. tr. 3. ISBN 978-1-59921-118-3. OCLC 212226551.
- ↑ McKain, David L.; Bernard, L. Allen (1994). Where It All Began: The Story of the People and Places Where the Oil Industry Began – West Virginia and South-eastern Ohio. Parkersburg, WV: D.L. McKain. ASIN B0006P93DY.
- ↑ Vassiliou, Marius S. (2018). Historical dictionary of the petroleum industry, 2nd Edition. Lanham, MD: Rowman and Littlefield. tr. 621. ISBN 978-1-5381-1159-8. OCLC 315479839.
- ↑ "Oil Museum of Canada, Black Gold: Canada's Oil Heritage, Oil Springs: Boom & Bust". Oil Museum of Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2013.
- ↑ Turnbull Elford, Jean (1982). Canada West's Last Frontier. Lambton County Historical Society. tr. 110.
- ↑ "Oil Museum of Canada, Black Gold: Canada's Oil Heritage". lclmg.org. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2013.
- ↑ May, Gary (1998). Hard oiler!: the story of Canadiansʼ quest for oil at home and abroad. Toronto: Dundurn Press. tr. 43. ISBN 978-1-55002-316-9. OCLC 278980961.
- ↑ Ford, R.W. A (1988). History of the Chemical Industry in Lambton County. tr. 5.
- ↑ Akiner, Shirin; Aldis, Anne, biên tập (2004). The Caspian: Politics, Energy and Security. New York: Routledge. tr. 5. ISBN 978-0-7007-0501-6.
- 1 2 Treibs, Alfred (ngày 19 tháng 9 năm 1936). "Chlorophyll- und Häminderivate in organischen Mineralstoffen" [Chlorophyll and heme derivatives in organic minerals]. Angewandte Chemie (bằng tiếng Đức). 49 (38): 682–686. Bibcode:1936AngCh..49..682T. doi:10.1002/ange.19360493803.
- 1 2 3 Kvenvolden, Keith A. (tháng 1 năm 2006). "Organic geochemistry – A retrospective of its first 70 years". Organic Geochemistry. 37 (1): 1–11. Bibcode:2006OrGeo..37....1K. doi:10.1016/j.orggeochem.2005.09.001.
- ↑ Baldwin, Hanson. "Oil Strategy in World War II". oil150.com. American Petroleum Institute Quarterly – Centennial Issue. tr. 10–11. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2009.
- ↑ Alakbarov, Farid. "10.2 An Overview – Baku: City that Oil Built". azer.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Times, Christopher S. Wren Special to The New York (ngày 13 tháng 11 năm 1974). "Soviet Moves Ahead of U.S. in oil output". The New York Times. ProQuest 119918089. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "US expected to surpass Saudi Arabia, Russia as world's top oil producer". Christian Science Monitor. ngày 12 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Annual Energy Review (bằng tiếng Anh). The Administration. 1990. tr. 252. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "The Arab Oil Threat". The New York Times. ngày 23 tháng 11 năm 1973. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "The price of oil – in context". CBC News. ngày 18 tháng 4 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2007.
- ↑ World Bank. "Commodity Markets Outlook: The Impact of the War in Ukraine on Commodity Markets, April 2022" (PDF).
- ↑ "Commodity Markets: Evolution, Challenges, and Policies". World Bank (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2022.
- ↑ "Use of energy for transportation - U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "What is U.S. electricity generation by energy source? - Frequently Asked Questions (FAQs) - U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "The United States is now the largest global crude oil producer". www.eia.gov. Today in Energy – U.S. Energy Information Administration (EIA). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "US soon to leapfrog Saudis, Russia as top oil producer". www.abqjournal.com. The Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Canada's oil sands survive, but can't thrive in a $50 oil world". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Canadian Association of Petroleum Producers". CAPP (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "IHS Markit: Canadian oil sands production to be ~1M barrels higher by 2030 but with lower annual growth; boosted by deterioration in Venezuela". Green Car Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Egan, Chris Isidore, Matt (ngày 4 tháng 3 năm 2026). "If not for America's oil boom, $4 gas likely would already be here. But the US can't avoid that pain point by itself". CNN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - 1 2 Norman, J. Hyne (2001). Nontechnical guide to petroleum geology, exploration, drilling, and production (ấn bản thứ 2). Tulsa, OK: Penn Well Corp. tr. 1–4. ISBN 978-0-87814-823-3. OCLC 49853640.
- ↑ Speight, James G. (2019). Heavy Oil Recovery and Upgrading (bằng tiếng Anh). Elsevier. tr. 13. ISBN 978-0-12-813025-4. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Hilyard, Joseph (2012). The Oil & Gas Industry: A Nontechnical Guide (bằng tiếng Anh). PennWell Books. tr. 31. ISBN 978-1-59370-254-0.
- ↑ Ollivier, Bernard; Magot, Michel (2005). Petroleum Microbiology. Washington, DC: American Society of Microbiology. doi:10.1128/9781555817589. ISBN 978-1-55581-758-9.
- ↑ Speight, J. G. (1999). The chemistry and technology of petroleum (ấn bản thứ 3). New York: Marcel Dekker. tr. 215–216, 543. ISBN 978-0-8247-0217-5. OCLC 44958948.
- ↑ Alboudwarej, Hussein; và đồng nghiệp (Summer 2006). "Highlighting Heavy Oil". Oilfield Review. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012.
- ↑ Use of ozone depleting substances in laboratories (PDF) (Báo cáo). TemaNord. Nordic Council of Ministers. 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2008.
- ↑ "Oil Sands – Glossary". Mines and Minerals Act. Government of Alberta. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008.
- ↑ "Oil Sands in Canada and Venezuela". Infomine Inc. 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Schobert, Harold H. (2013). Chemistry of fossil fuels and biofuels. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 103–130. ISBN 978-0-521-11400-4. OCLC 795763460.
- 1 2 Braun, R.L.; Burnham, A.K. (tháng 6 năm 1993). Chemical reaction model for oil and gas generation from type 1 and type 2 kerogen (Báo cáo). Lawrence Livermore National Laboratory. doi:10.2172/10169154. OSTI 10169154. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Tissot, B. P.; Welte, D. H. (1984). Petroleum Formation and Occurrence (ấn bản thứ 2). Berlin: Springer-Verlag. tr. 433–480. ISBN 9783642878138.
- ↑ Malyshev, Dmitry (ngày 13 tháng 12 năm 2013). "Origin of oil". large.stanford.edu (bằng tiếng English). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ Polar Prospects:A minerals treaty for Antarctica. United States, Office of Technology Assessment. 1989. tr. 104. ISBN 978-1-4289-2232-7. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Glasby, Geoffrey P. (tháng 3 năm 2006). "Abiogenic Origin of Hydrocarbons: An Historical Overview". Resource Geology. 56 (1): 83–96. Bibcode:2006ReGeo..56...83G. doi:10.1111/j.1751-3928.2006.tb00271.x.
- ↑ "The Mysterious Origin and Supply of Oil". Live Science. ngày 11 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2016.
- ↑ "Glossary". Canadian Association of Petroleum Producers. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "Heavy Sour Crude Oil, A Challenge For Refiners". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Rhodes, Christopher J. (2008). "The Oil Question: Nature and Prognosis". Science Progress. 91 (4): 317–375. doi:10.3184/003685008X395201. PMC 10367496. PMID 19192735.
- ↑ "Chevron Crude Oil Marketing – North America Posted Pricing – California". Crudemarketing.chevron.com. ngày 1 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Natural Resources Canada (tháng 5 năm 2011). Canadian Crude Oil, Natural Gas and Petroleum Products: Review of 2009 & Outlook to 2030 (PDF) (Báo cáo). Ottawa: Government of Canada. tr. 9. ISBN 978-1-100-16436-6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Light Sweet Crude Oil". About the Exchange. New York Mercantile Exchange (NYMEX). 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2008.
- ↑ Li, Guixian; Wu, Chao; Ji, Dong; Dong, Peng; Zhang, Yongfu; Yang, Yong (tháng 4 năm 2020). "Acidity and catalyst performance of two shape-selective HZSM-5 catalysts for alkylation of toluene with methanol". Reaction Kinetics, Mechanisms and Catalysis. 129 (2): 963–974. doi:10.1007/s11144-020-01732-9.
- ↑ "Organic Hydrocarbons: Compounds made from carbon and hydrogen". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2011.
- ↑ "Crude oil is made into different fuels". Eia.doe.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Hess, J.; Bednarz, D.; Bae, J.; Pierce, J. (2011). "Petroleum and health care: Evaluating and managing health care's vulnerability to petroleum supply shifts". American Journal of Public Health. 101 (9): 1568–1579. doi:10.2105/AJPH.2011.300233. PMC 3154246. PMID 21778473.
- ↑ Ferris, S. W.; Cowles, H. C.; Henderson, L. M. (tháng 11 năm 1929). "Composition of Paraffin Wax". Industrial & Engineering Chemistry. 21 (11): 1090–1092. doi:10.1021/ie50239a029.
- ↑ "International Energy Annual 2004". Energy Information Administration. 14 Jul. 2006. Found at http://www.eia.doe.gov/pub/international/iealf/tablee2.xls
- ↑ Edge, Graham (1998). A Century of Petroleum Transport. Roundoak. ISBN 978-1-8715-6527-0.
- 1 2 "A liquid market: Thanks to LNG, spare gas can now be sold the world over". The Economist. ngày 14 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013.
- ↑ International Crude Oil Market Handbook
- ↑ "Pricing Differences Among Various Types of Crude Oil". EIA. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ↑ Kellogg, Ryan (ngày 3 tháng 4 năm 2020). "We Should Be Celebrating OPEC's Price War, Not Trying To End It". Forbes. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Krauss, Clifford (ngày 31 tháng 3 năm 2020). "Oil Companies on Tumbling Prices: 'Disastrous, Devastating'". The New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Taylor, Adam; Noack, Rick; McAuley, James; Shammas, Brittany (ngày 9 tháng 3 năm 2020). "Live updates: N.Y. Port Authority head tests positive; riots reported at prisons in Italy over coronavirus restrictions". Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Stocks Fall and Bond Yields Sink: Live Updates". The New York Times. ngày 6 tháng 3 năm 2020. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2020.
- ↑ Long, Heather (ngày 9 tháng 3 năm 2020). "The markets are sending a message about coronavirus: The recession risk is real". Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "US crude oil price falls below $20". Financial Times. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
- ↑ DeCambre, Mark (ngày 20 tháng 4 năm 2020). "U.S. oil tumbles toward biggest one-day drop in history, off more than 38% near expiration as crude's woes continue". MarketWatch. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Oil Price Charts". OilPrice.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Brent Crude Futures". www.ice.com. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "Historical Crude Oil Intraday Data (CLA)". PortaraCQG (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Oil and petroleum products explained". U.S. Energy Information Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2024.
- ↑ U.S. Energy Information Administration (ngày 1 tháng 3 năm 2010). "Tệp Excel". U.S. Energy Information Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2008.
trích từ trang web [này] (đường dẫn lưu trữ: https://web.archive.org/web/20081110134954/http://tonto.eia.doe.gov/dnav/pet/pet_pri_wco_k_w.htm)
{{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong(trợ giúp)|quote= - ↑ DSW-Datareport 2008 (Báo cáo). Deutsche Stiftung Weltbevölkerung. 2008.
- ↑ "Dữ liệu". U.S. Energy Information Administration. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "IBGE". Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010.
- ↑ BP (2012). Statistical Review of World Energy (Workbook (xlsx)). London. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Crude oil including lease condensate production (Mb/d)". U.S. Energy Information Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Production of Crude Oil including Lease Condensate 2016" (Tải về CVS). U.S. Energy Information Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Quốc tế". US Energy Information Administration. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "U.S. Imports by Country of Origin". U.S. Energy Information Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Quốc tế". U.S. Energy Information Administration. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
- ↑ AEO2014 Early Release Overview (Báo cáo). U.S. Energy Information Administration. tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2013. Truy cập tháng 12 năm 2013.
Domestic production of crude oil .. increases sharply .. is expected to level off and then slowly decline after 2020
{{Chú thích báo cáo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ↑ Ritchie, Hannah; Roser, Max; Rosado, Pablo (ngày 11 tháng 5 năm 2020). "CO2 emissions by fuel". Our World in Data. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2021.
- ↑ "Methane Tracker 2020 – Analysis". IEA (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Canadell, Josep G.; Le Quéré, Corinne; Raupach, Michael R.; Field, Christopher B.; Buitenhuis, Erik T.; Ciais, Philippe; Conway, Thomas J.; Gillett, Nathan P.; Houghton, R. A.; Marland, Gregg (ngày 20 tháng 11 năm 2007). "Contributions to accelerating atmospheric CO 2 growth from economic activity, carbon intensity, and efficiency of natural sinks". Proceedings of the National Academy of Sciences. 104 (47): 18866–18870. Bibcode:2007PNAS..10418866C. doi:10.1073/pnas.0702737104. PMC 2141868. PMID 17962418.
- ↑ Le Quéré, Corinne; Andrew, Robbie M.; Friedlingstein, Pierre; Sitch, Stephen; Hauck, Judith; Pongratz, Julia; Pickers, Penelope A.; Korsbakken, Jan Ivar; Peters, Glen P.; Canadell, Josep G.; Arneth, Almut; Arora, Vivek K.; Barbero, Leticia; Bastos, Ana; Bopp, Laurent; Chevallier, Frédéric; Chini, Louise P.; Ciais, Philippe; Doney, Scott C.; Gkritzalis, Thanos; Goll, Daniel S.; Harris, Ian; Haverd, Vanessa; Hoffman, Forrest M.; Hoppema, Mario; Houghton, Richard A.; Hurtt, George; Ilyina, Tatiana; Jain, Atul K.; Johannessen, Truls; Jones, Chris D.; Kato, Etsushi; Keeling, Ralph F.; Goldewijk, Kees Klein; Landschützer, Peter; Lefèvre, Nathalie; Lienert, Sebastian; Liu, Zhu; Lombardozzi, Danica; Metzl, Nicolas; Munro, David R.; Nabel, Julia E. M. S.; Nakaoka, Shin-ichiro; Neill, Craig; Olsen, Are; Ono, Tsueno; Patra, Prabir; Peregon, Anna; Peters, Wouter; Peylin, Philippe; Pfeil, Benjamin; Pierrot, Denis; Poulter, Benjamin; Rehder, Gregor; Resplandy, Laure; Robertson, Eddy; Rocher, Matthias; Rödenbeck, Christian; Schuster, Ute; Schwinger, Jörg; Séférian, Roland; Skjelvan, Ingunn; Steinhoff, Tobias; Sutton, Adrienne; Tans, Pieter P.; Tian, Hanqin; Tilbrook, Bronte; Tubiello, Francesco N.; van der Laan-Luijkx, Ingrid T.; van der Werf, Guido R.; Viovy, Nicolas; Walker, Anthony P.; Wiltshire, Andrew J.; Wright, Rebecca; Zaehle, Sönke; Zheng, Bo (ngày 5 tháng 12 năm 2018). "Global Carbon Budget 2018". Earth System Science Data. 10 (4): 2141–2194. Bibcode:2018ESSD...10.2141L. doi:10.5194/essd-10-2141-2018. hdl:21.11116/0000-0002-518C-5.
- ↑ US Department of Commerce, NOAA. "Global Monitoring Laboratory – Carbon Cycle Greenhouse Gases". www.esrl.noaa.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Historical trends in carbon dioxide concentrations and temperature, on a geological and recent time scale". UNEP/GRID-Arendal Maps and Graphics Library. tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "Deep ice tells long climate story". Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
- ↑ Mitchell, John F.B. (1989). "The "Greenhouse" Effect and Climate Change". Reviews of Geophysics. 27 (1): 115–139. Bibcode:1989RvGeo..27..115M. doi:10.1029/RG027i001p00115. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2008.
- ↑ Change, NASA Global Climate. "Arctic Sea Ice Minimum". Climate Change: Vital Signs of the Planet. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Sommer, Ulrich; Paul, Carolin; Moustaka-Gouni, Maria (ngày 20 tháng 5 năm 2015). "Warming and Ocean Acidification Effects on Phytoplankton—From Species Shifts to Size Shifts within Species in a Mesocosm Experiment". PLOS ONE. 10 (5) e0125239. Bibcode:2015PLoSO..1025239S. doi:10.1371/journal.pone.0125239. PMC 4439082. PMID 25993440.
- ↑ "Acidic ocean deadly for Vancouver Island scallop industry". cbc.ca. ngày 26 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2014.
- ↑ Schwab, A. P.; Su, J.; Wetzel, S.; Pekarek, S.; Banks, M. K. (tháng 6 năm 1999). "Extraction of Petroleum Hydrocarbons from Soil by Mechanical Shaking". Environmental Science & Technology. 33 (11): 1940–1945. Bibcode:1999EnST...33.1940S. doi:10.1021/es9809758.
- ↑ Stanislave Patin. "Waste discharges during the offshore oil and gas activity". Elena Cascio biên dịch. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2009.
- ↑ "Pumping of the Erika cargo". Total.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Sims, Gerald K.; O'Loughlin, Edward J.; Crawford, Ronald L. (1989). "Degradation of pyridines in the environment". Critical Reviews in Environmental Control. 19 (4): 309–340. Bibcode:1989CRvEC..19..309S. doi:10.1080/10643388909388372.
- ↑ "Seeps Home Page". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. Natural Oil and Gas Seeps in California
- 1 2 Itah, A. Y.; Essien, J. P. (tháng 10 năm 2005). "Growth Profile and Hydrocarbonoclastic Potential of Microorganisms Isolated from Tarballs in the Bight of Bonny, Nigeria". World Journal of Microbiology and Biotechnology. 21 (6–7): 1317–1322. Bibcode:2005WJMB...21.1317I. doi:10.1007/s11274-004-6694-z.
- 1 2 Hostettler, Frances D.; Rosenbauer, Robert J.; Lorenson, Thomas D.; Dougherty, Jennifer (2004). "Geochemical characterization of tarballs on beaches along the California coast. Part I – Shallow seepage impacting the Santa Barbara Channel Islands, Santa Cruz, Santa Rosa and San Miguel". Organic Geochemistry. 35 (6): 725–746. Bibcode:2004OrGeo..35..725H. doi:10.1016/j.orggeochem.2004.01.022.
- ↑ Drew Jubera (tháng 8 năm 1987). "Texas Primer: The Tar Ball". Texas Monthly. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Knap Anthony H; Burns Kathryn A; Dawson Rodger; Ehrhardt Manfred; Palmork Karsten H (tháng 12 năm 1984). "Dissolved/dispersed hydrocarbons, tarballs and the surface microlayer: Experiences from an IOC/UNEP Workshop in Bermuda". Marine Pollution Bulletin. 17 (7): 313–319. doi:10.1016/0025-326X(86)90217-1.
- ↑ Wang, Zhendi; Fingas, Merv; Landriault, Michael; Sigouin, Lise; Castle, Bill; Hostetter, David; Zhang, Dachung; Spencer, Brad (tháng 7 năm 1998). "Identification and Linkage of Tarballs from the Coasts of Vancouver Island and Northern California Using GC/MS and Isotopic Techniques". Journal of High Resolution Chromatography. 21 (7): 383–395. doi:10.1002/(SICI)1521-4168(19980701)21:7<383::AID-JHRC383>3.0.CO;2-3.
- ↑ James S. Robbins (tháng 8 năm 1992). "How Capitalism Saved the Whales". The Freeman. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012.
- ↑ York, Richard (2017). "Why Petroleum Did Not Save the Whales". Socius. 3 2378023117739217. doi:10.1177/2378023117739217.
Oái oăm thay, mặc dù nhiên liệu hóa thạch đã cung cấp các sản phẩm thay thế cho những công dụng chính của dầu cá voi, sự trỗi dậy của việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong thế kỷ 19 lại làm gia tăng cường độ săn bắt cá voi.
- 1 2 "Is it the end of the oil age?". The Economist. ngày 17 tháng 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "Oil, gas, and mining". U4 Anti-Corruption Resource Centre. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Arezki, Rabah; Brückner, Markus (tháng 10 năm 2011). "Oil rents, corruption, and state stability: Evidence from panel data regressions". European Economic Review. 55 (7): 955–963. doi:10.1016/j.euroecorev.2011.03.004.
- ↑ Lujala, Päivi (2009). "Deadly Combat over Natural Resources: Gems, Petroleum, Drugs, and the Severity of Armed Civil Conflict". The Journal of Conflict Resolution. 53 (1): 50–71. doi:10.1177/0022002708327644.
- ↑ "International – U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2023.
- ↑ Alnasrawi, Abbas (1994). The economy of Iraq: oil, wars, destruction of development and prospects, 1950–2010. Westport, Conn.: Greenwood Press. ISBN 0-313-29186-1. OCLC 28965749.
- ↑ Ma, Richie Ruchuan; Xiong, Tao; Bao, Yukun (tháng 10 năm 2021). "The Russia-Saudi Arabia oil price war during the COVID-19 pandemic". Energy Economics. 102 105517. Bibcode:2021EneEc.10205517M. doi:10.1016/j.eneco.2021.105517. PMC 8652835. PMID 34898736.
- ↑ "Iran-Iraq War". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Where our oil comes from - U.S. Energy Information Administration (EIA)". www.eia.gov. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "Opec: What is it and what is happening to oil prices?". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Organization of the Petroleum Exporting Countries (2023). OPEC Annual Statistical Bulletin (Báo cáo) (ấn bản thứ 58). tr. 90. ISSN 0475-0608.
See pages 7 and 22
- ↑ "OPEC Share of World Crude Oil Reserves". Organization of the Petroleum Exporting Countries. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2024.
- ↑ Colgan 2021, The Rise of OPEC, tr. 59–93.
- ↑ Colgan, Jeff D. (2021). "The Stagnation of OPEC". Partial Hegemony: Oil Politics and International Order. Oxford University Press. tr. 94–118. doi:10.1093/oso/9780197546376.001.0001. ISBN 978-0-19-754637-6.
- ↑ LeClair, Mark S. (ngày 8 tháng 7 năm 2016) [2000]. "The History and Evaluation of Significant commodity Cartels". International Commodity Markets and the Role of Cartels . Abingdon: Routledge. tr. 81. ISBN 978-1-315-50088-1. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2023.
OPEC, cácte khét tiếng nhất trong số các cácte hiện đại, chỉ hoạt động thực sự hiệu quả trong vòng mười ba năm.
- ↑ "OPEC: Member Countries". opec.org. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Cohen, Ariel. "OPEC Is Dead, Long Live OPEC+". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
Thỏa thuận này đại diện cho nỗ lực chính sách thành công mới nhất của siêu cácte gồm 24 thành viên, thường được gọi không chính thức là 'Nhóm Vienna' hay 'OPEC+,' nhằm tạo sức nặng chi phối lên các thị trường dầu mỏ toàn cầu. Và đó thực sự là một sức nặng khổng lồ. [...] 14 thành viên của OPEC kiểm soát 35% nguồn cung dầu mỏ toàn cầu và 82% trữ lượng đã được chứng minh. Với sự tham gia của 10 quốc gia ngoài OPEC, nổi bật trong đó có Nga, Mexico và Kazakhstan, các tỷ trọng này lần lượt tăng lên 55% và 90%. Điều này mang lại cho OPEC+ mức độ ảnh hưởng chưa từng có đối với nền kinh tế thế giới.
3. 10 mỏ dầu lớn nhất thế giới Lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Petroleum tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
- Thông tin Năng lượng & Dầu khí Việt Nam
- Bài viết về đầu tư dầu hiệu quả
- ↑ 12,4 gigaton từ dầu mỏ (và khoảng 1 Gt CO2 tđ từ metan)/50 gigaton tổng cộng
<ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng